Sáng cuối tuần, sân chùa Rạch Giồng, Xã Hồ Thị Kỷ, rộn ràng hơn thường lệ. Trong gian lớp học nhỏ nằm nép mình sau chánh điện, những đứa trẻ Khmer chăm chú nắn nót từng nét chữ dưới sự hướng dẫn của các vị sư. Tiếng đánh vần còn ngọng nghịu hoà cùng tiếng cười trong trẻo, tạo nên một không gian bình yên, ấm áp.
Bao thế hệ trẻ đã lớn lên từ những lớp học miễn phí như thế, mang theo trong mình niềm tự hào về cội nguồn.
Đến với ngôi chùa này, người ta có thể cảm nhận rõ nhịp sống đang đổi thay ở vùng đồng bào Khmer. Đó là những con đường bê tông đã thay thế lối đất lầy lội năm nào. Là những mái nhà kiên cố dần hiện hữu giữa những hàng dừa nước. Là những vuông tôm, vườn rau, rẫy màu đang mang lại nguồn thu nhập ổn định. Và cũng là những lớp học vẫn sáng đèn mỗi cuối tuần để gìn giữ tiếng nói, chữ viết của dân tộc…
Những đổi thay ấy không đến trong một sớm một chiều.
Đó là kết quả của nhiều năm kiên trì thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; là sự đồng hành của cấp uỷ, chính quyền, các tổ chức đoàn thể cùng sự nỗ lực vươn lên của chính đồng bào Khmer.
Hôm nay, trên những phum, sóc nơi vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, sức sống mới đang hiện hữu bằng những đổi thay rất gần gũi nhưng cũng rất bền vững.
Nếu nhìn từ trên cao, những phum, sóc ở Cà Mau hôm nay không còn nhiều khác biệt so với các vùng quê khác.
Đường giao thông được mở rộng. Điện lưới quốc gia phủ kín. Trường học, trạm y tế được đầu tư khang trang. Những mái nhà mới nối tiếp nhau mọc lên giữa màu xanh của ruộng đồng và vuông tôm. Nhưng để có diện mạo ấy là cả một hành trình dài.
Nhiều năm trước, đời sống của một bộ phận đồng bào Khmer còn gặp rất nhiều khó khăn. Thiếu vốn sản xuất, nhà ở xuống cấp, nhiều gia đình quanh năm vất vả mới đủ ăn, cái nghèo cứ nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nhận diện đúng những khó khăn đó, tỉnh Cà Mau đã triển khai đồng bộ nhiều chương trình, chính sách dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiện nay, toàn tỉnh có 29 thành phần dân tộc thiểu số với 35.679 hộ, 157.473 người, chiếm khoảng 6,56% dân số; trong đó đồng bào Khmer có 126.076 người, chiếm trên 80% tổng số đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm còn 550 hộ, chiếm 2,05%; hộ cận nghèo còn 850 hộ, chiếm 3,17%. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của các chính sách dân tộc trong thời gian qua.
Nhiều địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống đã xuất hiện những “ấp trắng" hộ nghèo Khmer.
Đó không đơn thuần là thành tích về giảm nghèo.
Đó là dấu mốc của một hành trình mà ở đó, những căn nhà dột nát dần được thay thế bằng những mái ấm kiên cố; những hộ dân từng nhận hỗ trợ nay đã có thể tự chủ cuộc sống, thậm chí sẵn sàng nhường lại cơ hội cho những gia đình còn khó khăn hơn.
Đằng sau những con số ấy là biết bao câu chuyện về nghị lực, về khát vọng đổi thay.
Ở xã Đầm Dơi, câu chuyện của gia đình ông Thạch Văn Vui là một trong những minh chứng rõ nét nhất.
Ít ai biết rằng, người đàn ông hôm nay luôn nở nụ cười hiền bên căn nhà khang trang ấy đã từng có quãng thời gian tưởng như không thể thoát khỏi cái nghèo...
Con đường bê tông dẫn vào Ấp Đồng Tâm, xã Đầm Dơi, uốn mình giữa những vuông tôm mênh mông nước. Gần cuối con đường ấy là căn nhà còn thơm mùi sơn mới của vợ chồng ông Thạch Văn Vui và bà Thạch Thị Nga.
Đón khách bằng nụ cười hiền, ông Vui không giấu được niềm tự hào khi kể về ngôi nhà khang trang mà vợ chồng ông đã đổ mồ hôi, nước mắt để dựng nên.
Hơn 1 thập kỷ trước, nơi đây vẫn là căn nhà tạm bợ, chắp vá qua nhiều mùa mưa nắng.
Ngày ấy, cái nghèo luôn bám riết gia đình. Đồng ruộng ít, việc làm bấp bênh, thu nhập chẳng đủ trang trải cuộc sống. Những bữa cơm đạm bạc nối tiếp nhau, còn chuyện nuôi con học hành luôn là nỗi trăn trở lớn nhất của hai vợ chồng.
Khoảng năm 2008, vợ chồng ông Vui rời quê lên Bình Dương làm công nhân. Đó là quyết định không hề dễ dàng lúc bấy giờ vì rời quê đồng nghĩa với việc xa con, xa cha mẹ, bắt đầu cuộc sống nơi đất khách với đồng lương công nhân ít ỏi.
“Thời điểm đó, vợ chồng tôi chỉ có một mong muốn là cố gắng làm việc, kiếm tiền gửi về nuôi các con ăn học. Bởi chúng tôi tin rằng, chỉ có con chữ mới mở ra cơ hội, giúp các con có tương lai tốt đẹp hơn và không phải vất vả như cha mẹ”, bà Nga nghẹn ngào kể lại.
Gần 5 năm nơi đất khách, số tiền kiếm được ông bà đều gửi về hết cho các con ăn học. Sau một thời gian, ông bà trở về lại quê nhà, tiếp tục phát triển kinh tế trên mảnh đất chưa tròn 1 ha.
“Đất không còn màu mỡ, tôm cua thả xuống nhiều lần đều thất trắng. Sau nhiều năm chật vật, tôi bàn bạc với vợ, nghĩ rằng mình vẫn còn sức khoẻ thì nên đi làm thêm một thời gian, tích góp vốn về cải tạo lại vuông tôm. Chứ nếu cứ bám trụ như vậy mãi thì cuộc sống khó có thể phát triển được”.
Rồi vợ chồng ông lại khăn gói lên Bình Dương tìm việc.
Đại dịch Covid-19 ập đến. Trong khi nhiều người tìm đường trở về quê, ông bà lựa chọn ở lại nhà máy, vừa làm việc vừa thực hiện cách ly theo quy định.
Khoảng thời gian ấy là những tháng ngày khó quên.
Ca làm kéo dài.
Cuộc sống khép kín trong khu sản xuất.
Nhưng cũng chính những ngày gian khó ấy đã giúp hai vợ chồng tích góp được khoản vốn đầu tiên.
“Vợ chồng cố gắng dành dụm, không dám chi tiêu, hy vọng sớm trở về quê gây dựng lại cuộc sống”, ông Vui kể.
Rồi ông bà quyết định trở về quê.
Toàn bộ số vàng dành dụm nhiều năm được bán đi để xây căn nhà mới.
Ngôi nhà không quá lớn, nhưng đủ vững chãi để cả gia đình yên tâm trước mỗi mùa mưa bão.
Có chỗ ở ổn định, vợ chồng ông tiếp tục phát triển sinh kế ngay trên mảnh đất quê hương.
Điều khiến ông Vui tự hào không nằm ở căn nhà mới hay thu nhập khá hơn trước, mà là cảm giác mình đã có thể tự "đứng trên đôi chân của chính mình".
Câu chuyện gia đình ông Vui cũng là điều mà chính quyền địa phương luôn mong muốn hướng tới: hỗ trợ người dân bằng những chính sách phù hợp để họ có thể tự vươn lên.
Ông Lê Tấn Công, Phó Chủ tịch UBND xã Đầm Dơi, cho biết: Địa phương luôn xác định giảm nghèo phải gắn với sinh kế bền vững. Bên cạnh hỗ trợ nhà ở, xã tập trung hướng dẫn người dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiện thực tế.
Từ những mái nhà mới, nhiều gia đình Khmer có thêm điểm tựa để an cư. Nhưng để cuộc sống thực sự khấm khá, điều quyết định vẫn là sinh kế ổn định.
Ở xã Hoà Bình, có một người đàn ông Khmer đã gắn bó với một loại cây sinh kế suốt hơn ba mươi năm.
Nếu gia đình ông Thạch Văn Vui ở xã Đầm Dơi là câu chuyện của một hành trình vượt khó bằng sự bền bỉ và quyết tâm, thì ở ấp Thị Trấn B, xã Hoà Bình, người dân lại nhắc nhiều đến ông Hứa Thắng với cái tên gần gũi: "Thắng Đu Đủ".
Cái tên ấy đã gắn với ông hơn ba mươi năm, gắn với một loại cây đã nuôi sống gia đình qua nhiều thế hệ.
Đầu những năm 1990, sau khi lập gia đình, ông Thắng bám trụ với mảnh đất ở ấp Thị Trấn B.
Trong khi nhiều người thay đổi cây trồng theo từng thời điểm của thị trường, ông lại chọn một hướng đi có phần khác biệt: kiên trì với cây đu đủ.
Ban đầu chỉ là vài công đất nhỏ.
Rồi từng năm, diện tích được mở rộng dần.
Theo ông Thắng, cây đu đủ không đòi hỏi quá nhiều công chăm sóc, phù hợp với điều kiện đất đai ở địa phương. Nếu chăm sóc đúng kỹ thuật, cây cho trái gần như quanh năm, giúp gia đình có nguồn thu thường xuyên.
Không phải mô hình sản xuất lớn, cũng không phải câu chuyện làm giàu nhanh chóng. Nhưng chính sự kiên trì với một hướng đi phù hợp đã giúp gia đình ông từng bước ổn định cuộc sống.
Đó cũng là điều quan trọng trong hành trình giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào Khmer: mỗi gia đình cần tìm được một sinh kế phù hợp với điều kiện của mình.
Trước đây, căn nhà của gia đình ông Thắng xuống cấp sau nhiều năm sử dụng.
Mỗi mùa mưa đến, nỗi lo lại xuất hiện.
Ông luôn mong ước về một mái nhà vững chắc để che nắng, che mưa và ổn định cuộc sống ổn định lâu dài.
Vườn đu đủ chỉ giúp gia đình ông trang trải cuộc sống, không thể thực hiện mong ước ấy.
Ngày dọn vào nhà mới, niềm vui hiện rõ trên gương mặt các thành viên trong gia đình.
Với ông, giá trị lớn nhất của sự hỗ trợ không chỉ nằm ở khoản kinh phí được nhận. Điều quan trọng hơn là sự động viên, là niềm tin để người dân mạnh dạn đầu tư sản xuất, tiếp tục cố gắng bằng chính sức lao động của mình.
Một căn nhà có thể giúp gia đình ổn định nơi ở.
Nhưng một sinh kế phù hợp mới giúp họ ổn định cuộc sống lâu dài.
Ông Nguyễn Út Hiền, Trưởng ấp Thị Trấn B, xã Hoà Bình, cho biết, địa phương hiện có hơn 30% dân số là đồng bào Khmer.
Những năm qua, đời sống của bà con chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ gặp khó khăn cần tiếp tục được quan tâm, hỗ trợ.
Theo ông Hiền, những hộ vươn lên bằng chính sự nỗ lực như gia đình ông Thắng là những tấm gương có sức lan toả trong cộng đồng.
Từ những khu vườn nhỏ, những vuông nuôi thuỷ sản hay những mô hình sản xuất phù hợp, nhiều gia đình Khmer đang từng bước tạo dựng cuộc sống mới.
Đằng sau những chuyển biến tích cực ấy là vai trò của những người âm thầm kết nối chính sách với đời sống.
Những cán bộ cơ sở, những người có uy tín trong cộng đồng, những vị sư đang ngày ngày góp phần giữ gìn và lan toả những giá trị tốt đẹp trong từng phum, sóc.
Một vùng quê muốn phát triển bền vững không chỉ cần những con đường mới, những căn nhà mới hay những mô hình kinh tế hiệu quả.
Ở những phum, sóc Khmer hôm nay, có những người đang từng ngày giữ cho ngọn lửa đoàn kết, niềm tin và khát vọng vươn lên luôn được tiếp nối.
Nhắc đến sự đổi thay ở ấp Đường Đào, Xã Hồ Thị Kỷ, nhiều người dân vẫn nhớ đến ông Hữu Thảo. Nhiều năm gắn bó với địa phương, ông từng đảm nhiệm nhiều vai trò từ Trưởng ấp, rồi Bí thư Chi bộ.
Ở vị trí nào, ông cũng luôn tâm niệm một điều: muốn vận động được người dân, trước hết cán bộ phải gần dân, hiểu dân và thật sự đồng hành cùng dân.
Trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, ấp Đường Đào từng là địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống nhất tỉnh Cà Mau.
Những năm trước, nơi đây còn gặp nhiều khó khăn. Đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nhỏ lẻ, hạ tầng chưa đồng bộ, việc làm còn nhiều hạn chế. Nhưng bằng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của người dân, diện mạo địa phương đã từng bước thay đổi.
Những tuyến đường mới mở ra cơ hội giao thương.
Những chương trình hỗ trợ giúp người dân có thêm điều kiện phát triển sản xuất.
Nhận thức của bà con cũng dần thay đổi.
Kết quả ấy không chỉ là hiệu quả của chính sách.
Đó còn là sự chuyển biến từ chính người dân: biết tính toán làm ăn, chủ động tiếp cận nguồn vốn, mạnh dạn thay đổi cách nghĩ, cách làm.
Dù hiện nay không còn trực tiếp giữ chức vụ ở địa phương, ông Thảo vẫn tiếp tục là người có uy tín trong cộng đồng. Ông vẫn tham gia các cuộc vận động, tuyên truyền chủ trương, chính sách đến bà con.
Bởi với ông, làm công tác cộng đồng không chỉ là trách nhiệm.
Đó còn là sự gắn bó với quê hương.
Ở ấp Đồng Tâm, xã Đầm Dơi, câu chuyện về những người giữ lửa cộng đồng lại được viết tiếp bằng một thế hệ cán bộ trẻ.
Năm 2024, Anh Thạch Văn Lý được người dân tín nhiệm bầu giữ chức Trưởng ấp Đồng Tâm B.
Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính từ ngày 1/7/2026, anh tiếp tục đảm nhiệm vai trò Trưởng ấp Đồng Tâm.
Với anh Lý, công việc của một trưởng ấp không chỉ là triển khai các chủ trương, chính sách hay giải quyết công việc hành chính hằng ngày.
Điều quan trọng hơn là làm sao để người dân hiểu được chính sách, biết cách tiếp cận nguồn lực hỗ trợ và chủ động thay đổi cuộc sống.
Trước đây, khi còn là ấp Đồng Tâm B, địa phương có 428 hộ dân, trong đó 43 hộ đồng bào Khmer. Đến cuối năm 2025, địa phương đã xoá trắng hộ nghèo trong đồng bào dân tộc.
Tuy nhiên, sau khi sắp xếp địa giới hành chính, số hộ đồng bào Khmer tăng lên, kéo theo những yêu cầu mới trong công tác giảm nghèo.
Những mục tiêu mới lại bắt đầu.
Những việc làm mới lại được đặt ra.
Theo anh Lý, điều quan trọng nhất hiện nay là tiếp tục giúp bà con nâng cao nhận thức, phát huy tinh thần tự lực, chăm lo phát triển kinh tế và đầu tư cho thế hệ trẻ.
Nếu những người như ông Hữu Thảo, anh Thạch Văn Lý giữ vai trò kết nối cộng đồng, thì các vị sư tại những ngôi chùa Khmer lại đang âm thầm giữ gìn một phần quan trọng của bản sắc dân tộc.
Một vùng quê chỉ thật sự giàu mạnh khi đời sống vật chất được nâng lên, đồng thời những giá trị văn hoá vẫn được gìn giữ và phát huy.
Và chính những con người đang ngày ngày lặng lẽ cống hiến ấy đã góp phần tạo nên sức sống mới cho các phum, sóc hôm nay.
Những con đường bê tông nối dài vào từng phum, sóc, những căn nhà mới thay thế mái lá tạm bợ hay những mô hình sản xuất mang lại thu nhập ổn định là những đổi thay dễ dàng nhìn thấy bằng mắt. Nhưng có một sự chuyển mình quan trọng hơn, không thể đo, đếm bằng số liệu hay những công trình hữu hình, đó là sự thay đổi trong tư duy của người dân.
Nếu trước đây, nhiều hộ đồng bào Khmer còn mang tâm lý trông chờ vào sự hỗ trợ thì hôm nay, ngày càng nhiều người chủ động tìm hướng phát triển kinh tế, mạnh dạn vay vốn, học nghề, ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất và tích cực tham gia các phong trào ở địa phương. Những chính sách hỗ trợ của Nhà nước trở thành “cú hích” để người dân tự tin vươn lên.
Theo bà Trần Việt Thuỳ, Phó Chủ tịch UBND xã Hoà Bình, hiệu quả của các chương trình hỗ trợ không chỉ thể hiện ở tỷ lệ hộ nghèo giảm qua từng năm, mà còn ở sự thay đổi trong nhận thức của người dân.
Thực tế cho thấy, sự phát triển sẽ chỉ bền vững khi người dân không còn là đối tượng thụ hưởng, mà trở thành người trực tiếp tham gia, quyết định và lan toả những giá trị tích cực trong cộng đồng.
Từ những hộ gia đình nỗ lực thoát nghèo, những nông dân dám thay đổi cách làm ăn, những người phụ nữ tích cực tham gia các tổ, hội đến những vị sư âm thầm giữ gìn tiếng nói, chữ viết dân tộc, tất cả đang góp phần tạo nên diện mạo mới cho các phum, sóc.
Khi đồng bào trở thành chủ thể của sự phát triển, thành quả hôm nay sẽ không dừng lại ở những con số, mà sẽ tiếp tục được viết tiếp bằng những mùa no ấm, những thế hệ trẻ được học hành đầy đủ và những giá trị văn hoá được gìn giữ, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Theo bà Trần Việt Thùy, Phó Chủ tịch UBND xã Hoà Bình, các chương trình hỗ trợ nhà ở, đất ở, sinh kế, đào tạo nghề... đã tạo thêm điều kiện để hộ nghèo, hộ cận nghèo có cơ hội ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là sự chủ động vươn lên của mỗi gia đình.
Một chính sách đúng đắn sẽ phát huy hiệu quả khi người dân thực sự tham gia vào quá trình phát triển.
Trở lại chùa Rạch Giồng vào một buổi chiều.
Trong lớp học quen thuộc, những đứa trẻ Khmer vẫn đang chăm chú viết từng nét chữ.
Những lời nói mộc mạc của một đứa trẻ lại chứa đựng câu chuyện lớn hơn về sự thay đổi. Một thế hệ mới đang lớn lên trong điều kiện tốt hơn. Được học tập. Được tiếp cận nhiều cơ hội hơn. Đồng thời cũng được trao truyền tình yêu với tiếng nói, chữ viết và văn hoá dân tộc mình.
Ngoài kia, những con đường mới vẫn tiếp tục nối dài. Những căn nhà mới tiếp tục được xây dựng. Những mô hình sản xuất mới tiếp tục được hình thành.
Sức sống mới trên vùng đồng bào Khmer hôm nay không chỉ được tạo nên từ những chính sách đúng đắn. Không chỉ đến từ những công trình được đầu tư. Mà còn được nuôi dưỡng bằng ý chí tự lực, tinh thần đoàn kết và khát vọng vươn lên của chính mỗi người dân.
Bởi khi đồng bào không còn là đối tượng thụ hưởng, mà trở thành chủ thể của sự phát triển, thì những thành quả đạt được sẽ không dừng lại ở những con số.
Đó sẽ là những mùa no ấm. Là những thế hệ trẻ được học hành đầy đủ. Là những giá trị văn hoá được gìn giữ và trao truyền. Và là sức sống mới tiếp tục lan toả trên những phum, sóc nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc.
Thực hiện: Kim Cương - Hà Giang - Lê Tuấn - Phong Nguyên


