Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.
- Xã Cái Nước: Sạt lở chia cắt đường huyết mạch kết nối 5 ấp
- Khẩn trương khắc phục sạt lở, sụt lún
- Hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả vụ sạt lở
Có những xóm nhỏ hình thành từ vài cây cột cắm xuống bãi bồi. Có những đời người lớn lên bằng tiếng máy ghe. Người miền sông nước quen nhìn con nước để đo mùa, nhìn phù sa để đo đất đai.
Nhưng những năm gần đây, dòng nước ấy không còn hiền như trước. Sạt lở xuất hiện dồn dập hơn. Những vết nứt chạy dài ven sông như dấu hiệu báo trước một cuộc chia ly. Đất mất từng mảng. Nhà cửa trôi xuống nước. Và nhiều vùng quê yên bình ở Cà Mau đang phải học cách sống trong nỗi bất an thường trực vào những đêm dòng sông "nuốt" đất.
Rạng sáng cuối tháng 4 vừa qua, ven sông Đầm Dơi, đoạn qua tuyến đường Dương Thị Cẩm Vân thuộc Ấp 1, xã Đầm Dơi, mặt đất bất ngờ chuyển mình.
Không mưa lớn. Không dông bão. Chỉ có tiếng “rắc… rắc…” phát ra từ dưới lòng đất trong bóng tối.
Chỉ vài phút, ngôi nhà và tuyến lộ nhà bà Hiền bị dòng sông "nuốt" chửng.
Ông Nguyễn Minh Trạng (Ấp 1) nhớ rất rõ khoảnh khắc ấy: “Khoảng hơn 3 giờ sáng. Tôi đang nằm thì nghe tiếng nứt dưới nền nhà. Ban đầu cứ tưởng xe tải chạy ngoài đường. Nhưng tiếng nó khác lắm, như có thứ gì dưới lòng đất bị bẻ gãy…”.
Khi cả nhà chạy ra ngoài, mặt sông trước mắt đang từ từ kéo cả một đoạn lộ xuống nước.
Không phải sụp đổ tức thời. Mà chậm rãi đến đáng sợ.
Ông Trạng đứng chết lặng nhìn tuyến bờ kè bê tông dài hơn 40 m bắt đầu nghiêng xuống. Mặt lộ nứt toác. Những khối bê tông tách rời nhau như bánh quy bị bẻ vụn. Rồi tất cả cùng trượt xuống lòng sông.
“Mọi thứ diễn ra rất chậm, chậm lắm. Chậm tới mức mình nhìn thấy hết mà không cứu được gì”.
Ông Trạng vẫn chưa hết bàng hoàng, kể lại.
Đoạn sạt lở dài khoảng 70 m đã kéo theo phần đường bê tông rộng 4 m, bờ kè kiên cố, một căn nhà cùng bến cầu hàng hoá chìm xuống sông.
Tài sản hơn 3 tỷ đồng mất chỉ trong vài phút.
Nhưng điều khiến ông Trạng ám ảnh nhất không phải tiền mà sự bất lực trước thiên tai. “Mình sống ở đây mấy chục năm. Làm kiên cố cỡ này lẽ ra hạn sử dụng phải hơn 50 năm”, ông Trạng khẳng định chắc chắn.
Con sông Đầm Dơi vốn nổi tiếng “bên lở bên bồi”. Biết mình nằm phía bờ lở, hơn mười năm trước, gia đình ông Trạng cùng gia đình bà Nguyễn Mỹ Hiền (cùng ấp) quyết định đầu tư gần 3 tỷ đồng xây bờ kè chống sạt lở.
Những cây cừ lớn được đóng sâu xuống đất. Bê tông đổ dày. Mặt kè đủ cho xe tải chở hàng ra vào. “Lúc làm ai cũng nói kiên cố dữ lắm, chắc phải xài vài chục năm”, bà Hiền nhớ lại.
Nhưng thiên tai không đi theo tuổi thọ công trình. Những năm gần đây, dòng sông bắt đầu đổi tính. Nước xoáy mạnh hơn. Hàm ếch xuất hiện nhiều hơn, khoét sâu. Có đoạn vừa gia cố xong vài mùa mưa đã tiếp tục nứt gãy. Cứ tưởng giữ được đất, ai ngờ không giữ nổi!.
Rồi đến đêm cuối tháng 4, cả đoạn bờ kè mà họ từng tin sẽ giữ được đất cuối cùng cũng biến mất.
Bà Hiền kể: “Hồi đó cực khổ lắm mới cất được căn nhà. Giờ tuổi lớn rồi, phải dựng lại từ đầu. Chỉ lo sau này con cháu mình còn ở đây được nữa không…”.
Nói đến đó, bà nhìn ra mé sông đã bị khoét sâu thành một vách đứng. Dưới chân bờ, nước vẫn cuộn đục ngầu.
Không chỉ nhà dân, ngay cả những nơi linh thiêng nhất của vùng đất này cũng đang phải lùi lại trước sạt lở. Ở xã Thanh Tùng, Miếu Bà Thuỷ Long đã tồn tại gần 200 năm. Người dân miền sông nước tin rằng Thuỷ Long Thần Nữ là vị thần bảo hộ ghe xuồng, che chở người đi mở đất.
Ông Nguyễn Thanh Phong, Trưởng ban trị sự Miếu Bà, kể rằng, thuở xưa, những lưu dân đầu tiên đến vùng này thường khấn: “Nơi nào cá lóc nhảy lên thì cắm sào ở lại”. Từ niềm tin ấy, ngôi miếu ra đời và tồn tại qua nhiều thế hệ.
Nhưng gần ba thập niên qua, ngôi miếu ấy đã ít nhất 5 lần phải di dời vì sạt lở. Mỗi lần xây lại, ngôi miếu lại lùi sâu thêm vào đất liền.
Ông Lê Thanh Liêm, nguyên Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch xã Thanh Tùng (cũ), chỉ tay về phía mé sông: “Hồi những năm 1980, khu này rộng hơn 8.000 m2. Giờ còn hơn 3.500 m2 thôi”.
Đầu năm 2025, người dân vừa góp tiền xây lại Miếu Bà khang trang với kinh phí gần 2 tỷ đồng. Phần bờ kè bảo vệ khuôn viên cũng được đầu tư hàng trăm triệu đồng. Vậy mà chỉ vài tháng sau, một phần sân miếu tiếp tục sạt xuống sông.
Bà Phạm Thị Tại, người trông coi miếu, vẫn chưa hết hoảng hốt khi nhớ lại thời khắc đó: “Tôi nghe cái rầm. Chạy ra thì ngôi miếu nhỏ cạnh Miếu Bà mất tiêu rồi…”.
Nơi bà chỉ xuống giờ chỉ còn mặt nước xoáy đục. Miếu đã được dựng lại. Nhưng phần đất cũ thì không còn nữa. Và cứ thế, ngôi miếu mỗi lần được dựng là mỗi lần lùi sâu vào phía trong đất liền.
Nơi từng là khoảng sân rộng để người dân trong vùng tụ họp cúng Bà, tổ chức lễ và gặp gỡ mỗi dịp vía nay đã bị dòng nước cuốn mất, chỉ còn lại mé sông nham nhở sau đợt sạt lở.
Người miền Tây thường dựng nhà quay mặt ra sông. Bởi sông là đường sống. Sáng mở cửa nhìn con nước lớn ròng; chiều chống xuồng đi đặt lú, giăng câu. Đứa trẻ lớn lên quen thuộc với tiếng máy ghe. Người già ngồi bên hiên nhìn nước chảy qua đời mình.
Vì vậy, mất một căn nhà ở miền sông nước không chỉ là mất tài sản, mà là mất một phần ký ức.
Sau mỗi vụ sạt lở, có người dọn đi nơi khác. Có người dựng nhà mới lùi sâu vào trong. Có người bỏ nghề vì không còn đất sản xuất. Những xóm ven sông âm thầm đổi dạng từng ngày. Có bến nước không còn ghe neo. Có con đường hôm trước còn người qua lại, hôm sau đã thành lòng sông.
Nhiều buổi chiều, người dân đứng rất lâu bên mép nước. Không phải để nhìn dòng sông, mà để nhìn nơi từng là nhà mình. Nói như bà Hiền: “Trước khi sạt lở, đâu nghĩ nó nuốt được cả căn nhà!”.
Trong những năm gần đây, sạt lở ở Cà Mau không còn là những điểm đứt gãy nhỏ lẻ ven sông.
Theo thống kê của ngành chức năng, nhiều đoạn bờ sông, bờ biển ở Cà Mau bị khoét sâu từ 30-80 m mỗi năm, có nơi mất trên 100 m đất. Mỗi năm, khoảng 250-300 héc ta rừng phòng hộ tiếp tục biến mất dưới tác động của sóng biển và dòng chảy. Hiện toàn tỉnh có hơn 56 km bờ sông, bờ biển đang trong tình trạng sạt lở nguy hiểm, đe doạ trực tiếp đến nhà cửa, hạ tầng giao thông và nhiều khu dân cư ven biển.
Ở những nơi ấy, người dân không biết mép đất mình đứng hôm nay sẽ còn tồn tại đến bao giờ. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, dòng chảy thay đổi cùng tác động từ con người đang khiến những dòng sông miền Tây trở nên khó đoán hơn bao giờ hết. Người dân vẫn chống chọi bằng tất cả những gì họ có. Họ đóng cọc, gia cố bờ kè, trồng cây chắn sóng... Thế nhưng, có những cuộc dịch chuyển lớn hơn sức người.
Ông Lê Thanh Liêm nói rất khẽ: “Đất này ông bà mình mở ra từ bãi bồi. Giờ nước lấy lại thôi…”. Rồi ông im lặng nhìn dòng sông trước mặt. Con nước vẫn chảy như hàng trăm năm nay. Chỉ có đất ở lại ngày một ít hơn. Và dưới lòng sông kia, không chỉ có bê tông, nhà cửa hay những đoạn đường bị cuốn mất, mà còn có ký ức của cả một vùng quê.
Chiều xuống trên sông Đầm Dơi, nước bắt đầu lớn. Ban đêm, ông Nguyễn Minh Trạng cầm cây đèn pin đi dọc mé sông, soi vào những vết nứt mới xuất hiện sau mấy cơn mưa đầu mùa.
Ông nói ở trên tuyến này nhiều hộ không dám ngủ sâu vào ban đêm, trong nhà lúc nào cũng để sẵn giấy tờ, quần áo và vài thứ cần thiết để chạy khi có chuyện.
“Nghe tiếng đất rắc là phải chạy liền!”, ông Trạng chia sẻ trong sự lo âu!
Phía sau lưng ông, căn nhà của bà Nguyễn Mỹ Hiền đang chuẩn bị dựng lại, vẫn quay mặt ra dòng nước. Ai cũng hiểu, dòng nước ấy có thể một ngày nào đó sẽ lại mang đi thêm một phần đất nữa...
Trong cuộc giằng co ấy, câu chuyện không chỉ còn là chống đỡ từng điểm sạt lở, mà là yêu cầu một cách tiếp cận căn cơ hơn: quy hoạch lại dân cư ven sông, chủ động di dời những hộ trong vùng nguy hiểm, đầu tư kè chống sạt lở có trọng điểm và khôi phục rừng phòng hộ để giảm áp lực dòng chảy.
Nhưng dù giải pháp nào được đặt ra, thì với người dân ở những "điểm nóng", điều họ cần nhất vẫn là một sự an toàn đủ để không phải thức giấc giữa đêm chỉ vì một tiếng “rắc” ngoài mé sông.
Kim Cương - Hà Giang

Truyền hình



Xem thêm bình luận