Thứ sáu, 3-4-26 22:04:55
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Mở rộng chính sách đầu tư bảo vệ rừng đặc dụng

Báo Cà Mau Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm. Trong đó, đáng chú ý là các sửa đổi liên quan đến chính sách đầu tư đối với rừng đặc dụng.

Mở rộng chính sách đầu tư bảo vệ rừng đặc dụng.

Nghị định số 42/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định sau:

1- Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, được được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2024/NĐ CP, Nghị định số 183/2025/NĐ-CP và Nghị định số 227/2025/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định số 156/2018/NĐ-CP).

2- Nghị định số 58/2024/NĐ-CP ngày 24/5/2024 của Chính phủ về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp.

3- Nghị định số 102/2020/NĐ-CP ngày 01/9/2020 của Chính phủ quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 120/2024/NĐ-CP.

4- Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 01/01/2019 về Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 159/2024/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định số 01/2019/NĐ-CP).

Tăng mức kinh phí bảo vệ rừng đặc dụng

Nghị định số 42/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến chính sách đối với rừng đặc dụng. Cụ thể như sau:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5 về mức kinh phí bảo vệ rừng đặc dụng theo hướng tăng mức hỗ trợ và mở rộng phạm vi áp dụng. Mức kinh phí bình quân/ha/năm được nâng lên, đặc biệt đối với rừng đặc dụng. Bên cạnh đó, chi phí lập hồ sơ lần đầu tăng từ 50.000 đồng/ha lên 150.000 đồng/ha, trong khi tỷ lệ kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu vẫn giữ ở mức 7%. Cụ thể:

Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP nêu rõ đối tượng được cấp kinh phí bảo vệ rừng đặc dụng bao gồm:

a) Ban quản lý rừng đặc dụng;

b) Ban quản lý rừng phòng hộ;

c) Cộng đồng dân cư;

d) Các đối tượng khác theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 8 Luật Lâm nghiệp.

Nội dung tiếp theo

"2. Mức kinh phí:

a) Đối tượng quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều này được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng bình quân 500.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích được giao ngoài kinh phí sự nghiệp thường xuyên của các đơn vị.

b) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng bình quân 1.000.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng đặc dụng được giao.

c) Đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng bình quân 300.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng được giao quản lý.

d) Kinh phí bảo vệ rừng đối với khu vực II, III bằng 1,2 lần mức bình quân, vùng đất ven biển bằng 1,5 lần mức bình quân quy định tại các điểm a, b và c khoản này.

đ) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, chi phí lập hồ sơ lần đầu về bảo vệ rừng là 150.000 đồng/ha và kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu bảo vệ rừng là 7% trên tổng kinh phí chi cho bảo vệ rừng hằng năm.".

Mở rộng phạm vi các nội dung chi cho công tác bảo vệ rừng đặc dụng

- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 5 theo hướng mở rộng phạm vi các nội dung chi cho công tác bảo vệ rừng đặc dụng như chi về hạ tầng bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, phòng trừ sinh vật gây hại và bảo vệ, phát triển động thực vật rừng. Đồng thời, còn bổ sung nội dung chi cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng và công tác quản lý, giám sát ở cơ sở, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng. Cụ thể:

"3. Nội dung chi:

a) Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thực hiện các nội dung sau:

Khoán bảo vệ rừng đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại địa phương theo quy định tại Điều 19 Nghị định này.

Chi phí tiền công cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, thuộc đối tượng không được hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp; thuê lao động bảo vệ rừng.

Mua sắm, sửa chữa phương tiện, trang thiết bị phục vụ bảo vệ rừng và các công cụ hỗ trợ, bảo hộ lao động cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.

Bảo trì, bảo dưỡng, cải tạo công trình phòng cháy và chữa cháy rừng, trạm bảo vệ rừng, biển báo, biển cảnh báo, cọc mốc ranh giới rừng và công trình cứu hộ, bảo vệ, phát triển động vật rừng, thực vật rừng.

Theo dõi, thống kê, điều tra, giám sát diễn biến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng.

Hỗ trợ các lực lượng tham gia truy quét, tuần tra, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ rừng; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng; tổ chức ký quy ước, cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng; hỗ trợ đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng; tuyên truyền giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư.

Chi xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; diễn tập chữa cháy rừng; giảm vật liệu cháy; trực ngoài giờ phòng cháy và chữa cháy rừng trong các tháng mùa khô và chi các hội nghị phục vụ công tác bảo vệ rừng.

Hỗ trợ chi phí đi lại, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, họp với cộng đồng dân cư để triển khai hoạt động quy định tại Điều 8 Nghị định này.

Thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng khác theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

b) Đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thực hiện khoán bảo vệ rừng đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại địa phương theo quy định tại Điều 19 Nghị định này và chi cho các nội dung sau:

Thuê lao động bảo vệ rừng; chi tiền công cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng thuộc đối tượng không được hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp.

Mua sắm, sửa chữa phương tiện, trang thiết bị phục vụ bảo vệ rừng và các công cụ hỗ trợ, bảo hộ lao động cho lực lượng bảo vệ rừng.

Bảo trì, bảo dưỡng, cải tạo công trình phòng cháy và chữa cháy rừng, trạm bảo vệ rừng, biển báo, biển cảnh báo, cọc mốc ranh giới rừng và công trình cứu hộ, bảo vệ, phát triển động vật rừng, thực vật rừng.

Theo dõi, thống kê, điều tra, giám sát diễn biến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng.

Hỗ trợ các lực lượng tham gia truy quét, tuần tra, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ rừng; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng; tổ chức ký quy ước, cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng; hỗ trợ đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng; tuyên truyền giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư.

Chi xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; giảm vật liệu cháy; diễn tập chữa cháy rừng; trực ngoài giờ phòng cháy và chữa cháy rừng trong các tháng mùa khô và chi các hội nghị phục vụ công tác bảo vệ rừng.

Thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng khác theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

c) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng do chủ rừng quyết định theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

d) Đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều này: đối với doanh nghiệp nhà nước thực hiện khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại địa phương theo quy định tại Điều 19 Nghị định này và các hoạt động bảo vệ rừng khác do chủ rừng quyết định theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Đối với các tổ chức khác thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng theo phương án quản lý rừng bền vững và do chủ rừng quyết định theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

đ) Đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thực hiện các nội dung sau:

Duy trì hoạt động thường xuyên của tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng.

Hợp đồng lao động bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và các hoạt động khác trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; tổ chức thực hiện các hoạt động chống chặt phá rừng.

Chi xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng, diễn tập chữa cháy rừng; trực ngoài giờ phòng cháy và chữa cháy rừng trong các tháng mùa khô và chi các hội nghị phục vụ công tác bảo vệ rừng.

Chi công tác quản lý, kiểm tra, giám sát về bảo vệ rừng; chi lập và nhận hồ sơ đề nghị giao rừng, cho thuê rừng và giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư theo thẩm quyền.

e) Căn cứ vào ngân sách nhà nước được phân bổ hàng năm, đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này ưu tiên thực hiện các nội dung chi bảo vệ rừng cho khu vực có nguy cơ cao về xâm hại tài nguyên rừng; khu rừng có giá trị đa dạng sinh học cao cần được bảo vệ.".

Tăng gấp đôi mức hỗ trợ kinh phí để phát triển sinh kế, cải thiện đời sống người dân vùng đệm của các khu rừng đặc dụng

Ngoài ra, Nghị định số 42/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về nội dung và mức kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung thuộc quy hoạch rừng đặc dụng theo hướng tăng mức kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên lên 2.500.000 đồng/ha/năm, thay cho mức 1.000.000 đồng/ha/năm ở quy định cũ, nhưng vẫn giữ thời gian 6 năm và hệ số 1,5 lần cho vùng ven biển. Đối với khoanh nuôi có trồng bổ sung, không ấn định mức kinh phí cố định mà áp dụng theo định mức kinh tế – kỹ thuật và dự toán được duyệt. Đồng thời, bỏ chi phí lập hồ sơ lần đầu 50.000 đồng/ha, nhưng vẫn giữ tỷ lệ 7% cho quản lý, kiểm tra, nghiệm thu. Cụ thể:

"2. Nội dung và mức kinh phí:

a) Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên: mức kinh phí bình quân 2.500.000 đồng/ha/năm trong thời gian 6 năm. Đối với vùng đất ven biển bằng 1,5 lần mức bình quân.

b) Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung: theo định mức kinh tế kỹ thuật, thiết kế, dự toán công trình lâm sinh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

c) Chi phí lập hồ sơ thiết kế, dự toán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung được xác định bằng dự toán được duyệt; kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu bằng 7% tổng kinh phí chi cho khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung hằng năm.".

Đáng chú ý, Nghị định số 42/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 8 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về đối tượng và mức hỗ trợ kinh phí để phát triển sinh kế, cải thiện đời sống người dân vùng đệm của các khu rừng đặc dụng theo hướng tăng gấp đôi mức hỗ trợ từ 50.000.000 đồng/cộng đồng dân cư/năm lên 100.000.000 đồng/cộng đồng dân cư/năm.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (26/01/2026).

Theo baochinhphu.vn

Thả hơn 3 triệu con giống tái tạo nguồn lợi thuỷ sản bền vững

Nhân kỷ niệm 67 năm Ngày Truyền thống ngành Thuỷ sản (1/4/1959 - 1/4/2026), ngày 31/3, tại cửa biển Gành Hào, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau phối hợp UBND xã Gành Hào tổ chức lễ thả giống tái tạo nguồn lợi thuỷ sản, qua đó phát đi thông điệp mạnh mẽ về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường.

Ðằng sau câu chuyện “giải cứu” bí đỏ

Ðầu năm nay, niềm vui không trọn vẹn trên những cánh đồng bí đỏ ở 2 xã Khánh Bình và Ðá Bạc. Vụ bí trúng mùa nhưng giá rớt sâu, thương lái thậm chí còn không thu mua. Trước tình hình đó, nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân đã chung tay hỗ trợ tiêu thụ cho nông dân. Thế nhưng, đằng sau câu chuyện “giải cứu” vẫn còn không ít vấn đề cần nhìn nhận.

Nông dân khẩn trương vào vụ cá bổi mới

Hiện nay, các hộ nuôi cá bổi tại vùng ngọt tiểu vùng III Bắc Cà Mau đang tất bật cải tạo ao đầm, ép giống chuẩn bị cho vụ nuôi năm 2026. Thời tiết thuận lợi, bà con kỳ vọng một mùa vụ bội thu.

Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế xăng, dầu về 0 đến hết tháng 6

Bộ Tài chính đề xuất kéo dài việc giảm thuế xăng, dầu về 0 thêm 1,5 tháng đến hết tháng 6/2026 nhằm bình ổn giá, hỗ trợ sản xuất và kiểm soát lạm phát.

Thành lập Hợp tác xã Đê Tây, thúc đẩy phát triển vùng lúa - tôm

Nhằm định hướng phát triển kinh tế tập thể, đặc biệt tại các vùng sản xuất tập trung trên địa bàn, ngày 27/3, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Cà Mau phối hợp địa phương tổ chức hội nghị thành lập Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đê Tây tại Ấp 1, Xã Hồ Thị Kỷ.

Showroom 4S BYD Thành Công Cà Mau: Giải pháp "di chuyển xanh”

Sáng 27/3, Công ty TNHH Thương mại Ngọc Anh chính thức khai trương Showroom 4S BYD Thành Công Cà Mau, tại địa chỉ số 109, đường Lý Thường Kiệt, phường Tân Thành. Đây không chỉ là bước đi chiến lược nhằm mở rộng mạng lưới kinh doanh, mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của doanh nghiệp trong việc đồng hành cùng địa phương thúc đẩy xu hướng giao thông xanh và phát triển bền vững.

Cà Mau cam kết 5 giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo

Sáng 27/3, Diễn đàn Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo Cà Mau năm 2026 với chủ đề “Khơi nguồn nội lực - Kiến tạo tăng trưởng mới” diễn ra tại phường Bạc Liêu, với sự tham dự của đồng chí Nguyễn Minh Luân, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cùng đại diện các sở, ngành, doanh nghiệp và đông đảo cộng đồng khởi nghiệp.

Nông dân Năm Căn được chuyển giao kỹ thuật mới trong nuôi tôm quảng canh cải tiến

Sáng 25/3, hơn 50 hộ dân trên địa bàn xã Năm Căn được tập huấn chuyển giao kỹ thuật nuôi tôm sú gia hóa theo mô hình quảng canh cải tiến 2 giai đoạn, đồng thời được hướng dẫn kỹ thuật ủ và ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản.

Độc đáo cách thuần hoá ong mật

Không đầu tư bài bản theo kiểu công nghiệp, anh Trần Phương Vũ (Ấp 5, Xã Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) chọn lối đi riêng: Tìm kiếm những đàn ong thiên nhiên trú ngụ trong các hốc tủ, cột điện... mang về thuần hoá. Cách làm này không chỉ bảo tồn đàn ong mật địa phương mà còn mang lại nguồn thu nhập tiền triệu từ những giọt mật tinh tuý nhất.

Cây nụ áo: Từ rau dại đến cho thu nhập tiền triệu

Tận dụng diện tích đất vườn trống, nhiều hội viên phụ nữ tại ấp Chống Mỹ A, xã Năm Căn đã mạnh dạn chuyển đổi sang trồng cây nụ áo. Mô hình này không chỉ giúp cải thiện kinh tế gia đình, mà còn mở ra hướng đi mới trong việc sản xuất nông nghiệp sạch tại địa phương.