Thứ bảy, 10-10-26 22:27:22
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Thành tựu nhiệm kỳ Đại hội XIII

Bước chuyển lớn của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo

Báo Cà Mau Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII, có thể khẳng định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã có bước chuyển căn bản từ tư duy, thể chế đến tổ chức thực hiện và kết quả thực tiễn, đóng góp ngày càng rõ nét vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện nghi thức ra mắt 3 nền tảng số phục vụ triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 2/7/2025. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Đột phá thể chế, khơi thông nguồn lực sáng tạo

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những trụ cột quan trọng trong ba đột phá chiến lược: “đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”; “chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”. Trong hai năm cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII, hàng loạt quyết sách đổi mới mang tính lịch sử được ban hành, trong đó Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác lập rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia”, nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh.

Điểm nổi bật là sự thay đổi căn bản trong nhận thức và tư duy phát triển. Nếu như trước đây, khoa học, công nghệ chủ yếu được nhìn nhận như một lĩnh vực chuyên ngành, thì trong nhiệm kỳ XIII, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được xác định rõ là động lực chính của phát triển quốc gia, gắn trực tiếp với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh.

Trong hai năm cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII, hàng loạt quyết sách đổi mới mang tính lịch sử được ban hành, trong đó Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác lập rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia”, nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh.

Tư duy quản lý Nhà nước chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển; từ chú trọng đầu vào sang coi trọng kết quả đầu ra và tác động thực tiễn; từ tâm lý e ngại rủi ro sang chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới. Đây là bước chuyển có ý nghĩa nền tảng, tạo tiền đề giải phóng tiềm năng sáng tạo trong toàn xã hội, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp.

Trên cơ sở đổi mới tư duy, nhiệm kỳ Đại hội XIII chứng kiến đột phá mạnh mẽ về thể chế khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là sau khi Nghị quyết 57 xác định rõ thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Đảng uỷ Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ đạo rà soát, tháo gỡ những mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, sửa đổi kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật và nghiên cứu các vấn đề mới phát sinh để hoàn thiện hành lang pháp lý; đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua 10 dự án luật và các nghị quyết quan trọng, đồng thời ban hành đồng bộ hệ thống văn bản dưới luật, tạo ra hệ sinh thái pháp lý thông thoáng, đặc thù cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, làm nền tảng cho phát triển dài hạn. Thể chế từng được coi là điểm nghẽn của điểm nghẽn, nhưng trong nhiệm kỳ qua thể chế được coi là điểm đột phá của những đột phá.

Với nhiều cơ chế đột phá được hình thành, lần đầu tiên đổi mới sáng tạo được đặt ngang hàng với khoa học và công nghệ; phương thức quản lý chuyển từ đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra; cho phép tổ chức, cá nhân sở hữu và thương mại hoá kết quả nghiên cứu, hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận, miễn giảm thuế thu nhập cá nhân. Định hướng chuyển từ sử dụng sang làm chủ công nghệ chiến lược cũng được xác lập rõ ràng. Kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải đo lường được tác động, đóng góp trực tiếp vào nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế-xã hội. Trong công nghiệp công nghệ số, hành lang pháp lý cho các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, tài sản số từng bước được hoàn thiện, với các chính sách ưu đãi cho dự án trọng điểm, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn trong viễn thông, tần số, tiêu chuẩn, quy chuẩn, sở hữu trí tuệ và năng lượng nguyên tử, nhằm tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới...

Đóng góp cho tăng trưởng kinh tế

Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2024 ước đạt 46,2%, vượt mục tiêu Đại hội XIII đề ra (45%), cho thấy mô hình tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Kinh tế số trở thành động lực then chốt, với tỷ trọng kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 20,5% (Đại hội XIII đặt ra mục tiêu 20%); tốc độ phát triển duy trì khoảng 20% mỗi năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Trong các ngành kinh tế chủ lực, công nghiệp công nghệ số nổi lên như ngành công nghiệp nền tảng và động lực tăng trưởng mới, với doanh thu năm 2024 ước đạt 158 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu 132,3 tỷ USD, thu hút khoảng 1,8 triệu lao động và gần 74.000 doanh nghiệp. Công nghiệp phần cứng, điện tử trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam, quy mô xuất khẩu tương đương khoảng 30% GDP, đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu điện thoại di động và nằm trong nhóm năm quốc gia sản xuất, cung cấp thiết bị thương mại 5G. Việt Nam cũng vươn lên xếp ở vị trí thứ 7 về Chỉ số vị trí Dịch vụ toàn cầu, trở thành điểm đến gia công phần mềm quan trọng của châu Á.

Trong nông nghiệp, nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt với biến đổi khí hậu được đưa vào sản xuất, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho nông dân. Trong lĩnh vực y-dược, khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định trong làm chủ công nghệ sản xuất vắc-xin, ghép tạng và nhiều kỹ thuật y học hiện đại, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, chuyển đổi số quốc gia được triển khai mạnh mẽ, hình thành đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu số và các nền tảng dùng chung, góp phần quan trọng đổi mới phương thức quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất và đời sống xã hội, đồng thời tạo không gian phát triển mới cho doanh nghiệp và người dân.

Một chuyển biến quan trọng khác trong nhiệm kỳ Đại hội XIII là đổi mới sáng tạo lan toả ngày càng sâu rộng trong cộng đồng doanh nghiệp. Tính đến năm 2025, 34,6% số doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo, đã cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học, công nghệ cho 962 doanh nghiệp. Khối doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả, tạo việc làm cho hơn 42.000 lao động kỹ thuật cao. Khu vực tư nhân thể hiện vai trò dẫn dắt khi chiếm 98,5% số lượng doanh nghiệp khoa học, công nghệ; hơn 90% kết quả công nghệ được doanh nghiệp tự đầu tư nghiên cứu hoặc mua bằng vốn tư nhân. Doanh nghiệp khoa học, công nghệ đang trở thành lực lượng nòng cốt trong chuyển hoá kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, chuyển đổi số quốc gia được triển khai mạnh mẽ, hình thành đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu số và các nền tảng dùng chung, góp phần quan trọng đổi mới phương thức quản lý Nhà nước, tổ chức sản xuất và đời sống xã hội, đồng thời tạo không gian phát triển mới cho doanh nghiệp và người dân.

Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tiếp tục được củng cố. Giai đoạn 2021-2023, tổng nhân lực nghiên cứu và phát triển tăng từ 187.298 người lên 207.838 người, trong đó khu vực doanh nghiệp vươn lên chiếm gần 20%, phản ánh rõ định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Công tác phát triển nhân lực số và phổ cập kỹ năng số được triển khai sâu rộng, góp phần hình thành đội ngũ có khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ mới.

Theo nhandan.vn

Bổ sung 4 lĩnh vực để đánh giá KPI đối với cán bộ

Sáng 9/10, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Cà Mau tổ chức hội nghị sơ kết công tác tổ chức xây dựng Đảng 9 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 3 tháng cuối năm 2026. Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh uỷ Phan Thanh Duy chủ trì hội nghị.

Đảng uỷ UBND tỉnh tập trung hoàn thành các chỉ tiêu năm 2026

Chiều 7/10, Đảng uỷ UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thực hiện Nghị quyết Đảng uỷ 9 tháng đầu năm, triển khai chương trình công tác quý IV năm 2026.

“Cắm cờ” Tổ quốc trong lòng Nhân dân - Bài cuối: Tạo môi trường cho người trẻ cống hiến

Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy tất yếu kéo theo sự dịch chuyển về nhân lực. Có người tiếp tục ở lại hệ thống, có người trở về cộng đồng, tìm việc làm mới hoặc lập nghiệp ở nơi khác. Ðiều đáng quan tâm không chỉ là họ đi đâu sau sắp xếp, mà còn là làm thế nào để những cán bộ, đảng viên trẻ từng được rèn luyện từ cơ sở vẫn giữ được tinh thần cống hiến, mối liên hệ với tổ chức và trở thành nguồn lực cho quê hương.

Nâng chất công tác xây dựng Đảng

Sáng 1/10, Đảng uỷ các cơ quan Đảng tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 9 tháng đầu năm, triển khai chương trình công tác quý IV/2026.

“Cắm cờ” Tổ quốc trong lòng Nhân dân - Bài 3: Giữ vững thành trì lòng dân

Trong lộ trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, cũng như thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới sẽ không tránh khỏi những xáo trộn nhất định về tâm tư, cán bộ và tổ chức. Ðiều đó đòi hỏi sự vững vàng và bản lĩnh chính trị của các cán bộ trẻ từ phường, xã đến ấp, khóm.

Biến khát vọng thành hành động

Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Ðẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” đặt ra yêu cầu rất rõ: Việc học Bác phải chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực; gắn với chất lượng thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ Nhân dân. Khi khát vọng phát triển được chuyển thành phương pháp hành động, mỗi cán bộ, đảng viên phải bắt đầu từ việc mình được giao, làm đến nơi đến chốn và tạo ra kết quả cụ thể.

“Cắm cờ” Tổ quốc trong lòng Nhân dân - Bài 2: Thay đổi và chuyển mình

Hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cơ sở không thể chỉ đo đếm bằng số lượng cán bộ hay cơ cấu tổ chức trên giấy tờ, mà được định lượng bằng mức độ tin cậy của Nhân dân. Khi những cán bộ trẻ bước qua khỏi cánh cửa văn phòng để đến từng ngõ xóm, khoảng cách giữa chính quyền và người dân được rút ngắn bằng sự lắng nghe và thấu hiểu.

Hạt nhân chính trị trong doanh nghiệp tư nhân

Thời gian qua, các cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, xây dựng tổ chức Ðảng và phát triển đảng viên trong các đơn vị kinh tế ngoài Nhà nước. Việc gieo "hạt giống" Ðảng vào lòng doanh nghiệp không chỉ định hướng phát triển bền vững mà còn tạo động lực bứt phá cho kinh tế địa phương.

Gieo “sức mạnh mềm” từ mái trường

Hơn 397.200 trẻ em, học sinh, học viên và sinh viên Cà Mau bước vào năm học mới, năm học đầu tiên sau khi tỉnh sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập. Cùng với việc dạy chữ, các nhà trường chú trọng bồi đắp tình yêu quê hương, giữ gìn bản sắc văn hoá và hình thành ý thức trách nhiệm tạo nên nền tảng “sức mạnh mềm” từ mái trường.

Tăng cường nội lực, tạo sức sống lâu bền cho Ðảng - Bài cuối: Lời giải từ thực tiễn

Trong bối cảnh công tác phát triển đảng viên ở một số địa phương còn gặp không ít khó khăn, yêu cầu bảo đảm tính kế thừa và phát triển liên tục của Ðảng đặt ra ngày càng cấp thiết. Thực tiễn cho thấy, để tháo gỡ những “nút thắt”, các cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành chỉ tiêu số lượng, mà quan trọng hơn là chủ động tạo nguồn từ sớm, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng đảng viên.