Mười năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới là hành trình đầy cam go nhưng cũng vô cùng ấn tượng của Ðảng bộ và Nhân dân tỉnh Minh Hải. Ðó là giai đoạn những “xiềng xích” của cơ chế cũ dần được cởi bỏ, nhường chỗ cho sự năng động của kinh tế thị trường, khơi dậy sức dân từ rừng sâu đến biển cả.
Ký ức về thời “cày cấy, chấm công”
Ở tuổi 70, ông Nguyễn Hoàng Thành, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Bạc Liêu, vẫn nhớ như in giai đoạn làm Tập đoàn trưởng Tập đoàn 1 Công Ðiền, xã Thới Chiến, huyện Vĩnh Lợi (nay là xã Châu Thới). Thời ấy, khái niệm “làm ăn cộng điểm” in sâu vào tâm trí mỗi nông dân.
Hồi xưa vất vả lắm, diện tích một tập đoàn bằng nửa ấp bây giờ nhưng làm ăn trì trệ. Cả cánh đồng rộng lớn chỉ độc canh cây lúa, mỗi công chỉ thu hoạch được mấy chục giạ. Nông dân phải tự cày, tự cấy bằng tay, cực nhọc vô cùng nhưng hiệu quả chẳng bao nhiêu.
Nhà cửa lụp xụp, đa phần nhà lá xiêu vẹo, điện nước là điều xa xỉ, người dân sống trong vòng quẩn quanh của sự thiếu thốn. Thế nhưng, chính từ những khó khăn "giáp hạt" ấy, ước mơ thay đổi bùng cháy. Những bước chân đầu tiên trên đường đổi mới (1986-1996) chính là lời giải cho bài toán ấm no mà nhiều thế hệ lãnh đạo và người dân Minh Hải hằng trăn trở.
Ðánh thức rừng vàng, biển bạc
Năm 1986, Ðại hội Ðảng bộ tỉnh Minh Hải lần thứ VIII xác định mục tiêu trọng tâm: “Phát triển nông nghiệp toàn diện (nông - lâm - ngư), lấy thuỷ sản làm động lực, xuất khẩu làm mũi nhọn”. Thông điệp đổi mới nhanh chóng lan toả, biến thành những hành động cụ thể trên khắp dải đất địa đầu cực Nam.
Một trong những bước đi táo bạo nhất chính là việc “xé rào” cơ chế tại các lâm ngư trường. Năm 1985, Lâm ngư trường Sông Trẹm ra đời với diện tích 10.000 ha. Trong phóng sự “U Minh giữa lòng Sông Trẹm” viết năm 1994 của Nhà báo Duy Hoàng có đoạn: “Ông Ba Quí, Giám đốc Lâm ngư trường Sông Trẹm liều lĩnh phá cơ chế để cho ra đời lâm ngư trường này, đây là việc “tày đình” hồi ấy. Giao đất, giao rừng cho người dân đến 20 năm, hết thời hạn, hợp đồng tiếp”.
Trong bài báo, ông Ba Quí lý giải một cách giản dị nhưng sâu sắc: Khi đất, nước, rừng đã trở thành “máu thịt” của người dân, họ sẽ bảo vệ và canh tác hiệu quả nhất. Chính tư duy “xã hội hoá nghề rừng” này đã hạn chế nạn chặt phá cây bừa bãi, giúp độ che phủ rừng tăng mạnh từ 42% năm 1996 lên 53% vào năm 2000. Nhiều gia đình, như gia đình cha của đồng chí Nguyễn Trúc Ly (Bí thư Ðảng uỷ Xã Phan Ngọc Hiển hiện nay), nhờ nhận khoán đất rừng tại ấp Vịnh Nước Sôi, xã Viên An, huyện Ngọc Hiển (nay là xã Ðất Mũi) mà từ chỗ chỉ làm rẫy đã chuyển sang nuôi thuỷ sản bền vững dưới tán rừng.
Lễ thông xe 2 bánh lộ đất đỏ Ðầm Dơi - Cà Mau - Chà Là - Cái Keo ngày 30/12/1995. (Ảnh tư liệu)
Nếu rừng là "vàng" thì biển là "bạc". Những năm đầu đổi mới, tỉnh Minh Hải chủ trương hạch toán kinh doanh, đổi mới kỹ thuật đánh bắt và mở rộng liên doanh với nước ngoài. Các cửa biển lớn như: Sông Ðốc, Khánh Hội, Gành Hào, Nhà Mát trở thành những “công trường” giao thương nhộn nhịp.
Cứ mỗi lần “đến con nước”, thị trấn Gành Hào, huyện Giá Rai (nay là xã Gành Hào) lại đón thêm hàng ngàn thương nhân từ khắp nơi đổ về. Không chỉ mua bán thuỷ sản, các dịch vụ xăng dầu, nước đá, hàng tiêu dùng cũng theo đó mà “đắt như tôm tươi”. Những chuyến tàu tốc hành xuôi ngược khắp ngã để “ăn hàng”, mang hơi thở của kinh tế thị trường, làm sôi động cả vùng quê biển.
Kết quả là giá trị sản lượng ngành thuỷ sản tăng bình quân 9,5% mỗi năm. Ðến năm 2000, giá trị chế biến xuất khẩu đạt gần 200 triệu USD, khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn. Bình điện thắp sáng đèn le lói những năm 80 dần được thay thế bằng điện lưới quốc gia, cống tạm bằng cây mắm được thay bằng bê tông cốt thép kiên cố.
Thay đổi tư duy, chuyển mình mạnh mẽ
Cuộc cách mạng trong nông nghiệp từ sau Nghị quyết 10 (Khoán 10) làm thay đổi hoàn toàn tâm lý của nông dân Minh Hải. Từ độc canh sang đa dạng hoá, từ sản xuất 1 vụ lúa tiến lên 2, 3 vụ mỗi năm nhờ hệ thống thuỷ lợi nội đồng được nạo vét quy mô. Lương thực từ chỗ thiếu ăn đã dần có tích luỹ và xuất khẩu.
Ông Lê Công Nghiệp, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, nhận định: Ðến những năm 1990, Minh Hải đã hình thành vị thế mới về quy hoạch sản xuất và bố trí dân cư. Công tác đào tạo cán bộ được chú trọng, tạo đà cho việc tách tỉnh sau này diễn ra thuận lợi.
Kênh xáng Quản lộ Phụng Hiệp được quy hoạch khai thác giúp sản xuất nông nghiệp của tỉnh Minh Hải bứt phá.
Nhìn lại chặng đường 1991-1995, GDP bình quân đầu người của tỉnh tăng 34% so với giai đoạn trước. Sản lượng lương thực đạt mức kỷ lục 5,7 triệu tấn trong 5 năm. Những con số khô khan ấy là minh chứng cho tinh thần quật khởi, như lời khẳng định của Bí thư Tỉnh uỷ Ðặng Thành Học tại Ðại hội năm 1996: “Không một trở lực nào có thể ngăn cản bước tiến chúng ta về phía trước”.
Hạ tầng điện, đường, trường, trạm y tế bắt đầu phủ sóng về các xóm ấp xa xôi nhất. Ðó là kết quả của quá trình lãnh đạo bền bỉ, chăm lo cho đời sống Nhân dân. Những bước chân đầu tiên trên đường đổi mới của Minh Hải đã tạo ra bệ phóng vững chắc, để khi bước sang giai đoạn tách tỉnh năm 1997, mỗi mảnh đất đều đã sẵn sàng cho tầm nhìn mới, vận hội mới.
“Công tác thuỷ lợi nội đồng giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Hàng chục kilômét kênh mương được nạo vét; kênh xáng Quản lộ Phụng Hiệp được quy hoạch khai thác; công tác tháo chua, rửa mặn được đẩy mạnh cùng với việc áp dụng những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật vào sản xuất đã làm thay đổi tâm lý, tập quán của người nông dân”.
(Theo sách Lịch sử địa phương Cà Mau, Nxb Ðại học Sư phạm, Thái Văn Long chủ biên, 2007)
Nguyễn Quốc
Bài 3: CHIA TÁCH ÐỂ BỨT PHÁ

Truyền hình



Xem thêm bình luận