Thứ bảy, 29-8-26 14:46:32
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Bạc bẽo phận giữ rừng: Bài 2: Nhiều bất cập trong ăn chia sản lượng khai thác

Báo Cà Mau Gia đình bà Quách Kim Ái về ấp Mai Hoa nhận khoán đất rừng từ những năm 1990. Sau bao năm nỗ lực giữ rừng, 10,5 ha rừng đước của gia đình cũng đến hạn khai thác được gần phân nửa. Tuy nhiên, niềm vui và hy vọng của gia đình bà nhanh chóng biến thành nỗi thất vọng và bức xúc khi Ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I vào thông báo giá trị 4 công rừng của gia đình bà được 14 triệu đồng, sau khi trừ chi phí từ trồng, khảo sát thiết kế kỹ thuật và 30% ăn chia lại cho chủ rừng.

Thiết kế, thẩm định giá khi khai thác rừng đước chưa rõ ràng, thiếu minh bạch và thấp hơn so với thực tế đang là vấn đề khiến nhiều hộ dân giữ rừng phòng hộ vô cùng bức xúc.

Dân bảo chưa

Gia đình bà Quách Kim Ái về ấp Mai Hoa nhận khoán đất rừng từ những năm 1990. Sau bao năm nỗ lực giữ rừng, 10,5 ha rừng đước của gia đình cũng đến hạn khai thác được gần phân nửa.

Tuy nhiên, niềm vui và hy vọng của gia đình bà nhanh chóng biến thành nỗi thất vọng và bức xúc khi Ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I vào thông báo giá trị 4 công rừng của gia đình bà được 14 triệu đồng, sau khi trừ chi phí từ trồng, khảo sát thiết kế kỹ thuật và 30% ăn chia lại cho chủ rừng.

Đối với người giữ rừng, cây đước là tài sản quý giá nhất. Nhưng với cơ chế ăn chia như hiện nay lợi ích từ việc giữ rừng không tương xứng với công sức của họ.

Thấy giá quá thấp, gia đình thương lượng riêng với thầu khai thác nâng lên được 24 triệu đồng. 
Mặc dù đã được nâng lên thêm được gần 90% so với giá thiết kế, nhưng bà Ái cho biết, khi thầu khai thác xong, mang cây ra bà thấy là muốn xỉu liền: trên dưới 60m3. Với sản lượng này, cùng với giá trên thị trường khoảng 900.000/m3 thì rõ ràng, thiết kế ban đầu không được một nửa. 

Bà Ái bộc bạch, theo cách tính của Ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I, người dân nơi đây đang sống và sinh hoạt trên ngọn đước. Phần đất gia đình trước kia nhận khoán là 3 ha. Sau đó tiến hành phóng tuyến đường thuỷ, rồi lộ giao thông nông thôn, điện... nhưng khi tính phần trăm trồng rừng quản lý rừng vẫn tính toàn bộ các phần đất như ban đầu nên diện tích mặt nước người dân nuôi tôm không còn bao nhiêu.

Sự quản lý có phần cứng nhắc đó đã khiến người dân nhận khoán đất rừng gặp khó khăn trong sản xuất.

Theo ông Lê Văn Hậu, Trưởng ấp Mai Hoa, có hộ ông Trần Ngọc Duy nhận khoán phần đất giáp với khu vực rừng phòng hộ rất xung yếu, sóng biển làm sạt lở tới bờ bao, nhưng xin đưa cơ giới vào gia cố lại nhưng không được. Hiện nay khi triều cường lên là nước biển tràn vào vuông làm thất thoát tôm nuôi.

Trong khi đó, ông Hậu bức xúc, đất của nhân viên Ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I thì họ muốn làm gì thì làm, thậm chí đưa cơ giới vào hạ mặt trảng vuông để nuôi tôm. Còn sau khai thác muốn trồng lại thì trồng, không trồng cũng chẳng sao. 

Rừng phòng hộ biển Đông ở Cà Mau không đủ sức giữ bờ biển khỏi xói lở. Tại cửa Bồ Đề, huyện Ngọc Hiển, mỗi năm biển lắn sâu vào hàng trăm mét.

Chuyện đã qua gần 3 năm nhưng mỗi khi nhắc lại ông Trần Văn Kiệt, Tiểu khu Rạch Dà, vẫn còn vô cùng bức xúc. Gia đình ông Kiệt có 5,6 ha rừng đến tuổi khai thác vào năm 2013, theo đó, diện tích được khai thác là 3 công.

Những tưởng thành quả giữ rừng bao năm sẽ được đền đáp xứng đáng, ông sẽ có đủ tiền để nuôi người con đang theo học đại học, Nhưng dự tính ấy mau chóng tan biến khi ông được thông báo 3 công rừng chỉ được “ăn chia” 12 triệu đồng.

Sau hơn 1 tháng “kỳ kèo” với thầu, cuối cùng, ông bán được 20 triệu đồng. Dù đã nâng lên gần gấp đôi nhưng ông Kiệt vẫn vô cùng bức xúc khi thấy sản lượng khai thác thực tế lên đến 125m3, tính ra trên 100 triệu đồng.

Ông Kiệt lắc đầu: “Không biết họ tính theo kiểu nào mà mức chênh lệch lại lớn đến như vậy. Thấy sản lượng thầu khai thác mang ra ngoài là không ăn ngủ gì được, mấy năm rồi mà nhắc lại còn tức”.

Câu chuyện chênh lệch giữa sản lượng với thiết kế không chỉ được ghi nhận tại hộ gia đình ông Kiệt, bà Ái, mà là bức xúc chung của đại bộ phận người dân có nhận khoán đất rừng nơi đây. Như sản lượng khảo sát thiết kế của gia đình ông Phạm Thanh Hậu là 50m3 nhưng sản lượng thực tế lên đến 100 m3. Hay rừng của ông Nguyễn Quốc Vũ có sản lượng thiết kế 70m3 nhưng khi khai thác sản lượng lên đến 150m3.

“Đúng là việc đánh giá sản lượng cây đứng trong rừng thì người dân không ai đòi hỏi mức độ chính xác 100% nhưng nếu chênh lệch thì cũng khoảng 15%-20%, đằng này gần gấp đôi là quá lớn. Rồi thêm tiền bị trừ chi phí các thứ nên dân giữ rừng mấy mươi năm mà thu có được bao nhiêu đâu”, ông Lê Văn Hậu bày tỏ.

Ban Quản lý bảo “đã công khai minh bạch”

Sự bức xúc của người dân trong việc thiết kế sản lượng được ông Nguyễn Quốc Em, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I giải thích, trong thiết kế và sản lượng thực tế có chênh lệch là do khách quan, do mật độ cây rừng ở đây không có độ thoáng nên đánh giá, thẩm định chưa chính xác. Bên cạnh đó thầu mua thì cắt chiều dài củi là 0,9 m chứ không phải 1m.

Ngoài ra, ông Em cho biết thêm, các trường hợp người dân bán với giá cao hơn so với giá thiết kế xuất phát từ việc dân xin thêm phần củi dưới chang, nhà thầu thấy có lời nên cho thêm vì trong quá trình thiết kế chỉ tính từ phần thân.

Ông Em khẳng định, thiết kế là vậy nhưng trong quá trình khai thác có sự giám sát của người dân, nếu sản lượng khai thác cao hơn so với thực tế thì phần tăng thêm đó cũng chia thêm cho người dân.

Ngoài ra, đối với hình thức ăn chia, ông Em khẳng định, thiết kế chỉ là cơ sở dự toán ban đầu để tiến hành họp dân thông báo và đấu thầu. Sau khi đã có sản lượng khai thác thực tế mới tiến hành chia phần trăm cho người dân theo quy định (dân hưởng 7, Ban Quản lý rừng phòng hộ hưởng 3, sau khi đã trừ hết chi phí).

Như vậy, giữa chuyện thiết kế khai thác và ăn chia đang xảy ra mâu thuẫn khá lớn. Dân thì nói thiếu chính xác, chưa minh bạch còn ban quản lý lại bảo đã công khai, có biên bản ký nhận rõ ràng giữa các tiểu khu và người dân. Sau khi so sánh sản lượng khai thác, ghi nhận của người dân và tiểu khu khớp với nhau mới tiến hành ăn chia. Do đó, nếu sản lượng thực tế cao hơn so với thiết kế thì phần dư đó người dân cũng được chia thêm.

Ông Em cho biết “người dân sợ phải chia lại 30 % cho ban quản lý nên tự thoả thuận với nhà thầu để được hưởng trọn”.  Rõ ràng nhận định này mâu thuẫn với chính ý kiến khẳng định trước đó của ông Em, là sau khi có sản lượng thực tế mới tiến hành ăn chia và trong quá trình khai thác có sự giám sát và ghi nhận của các tiểu khu, nếu dân có thể thoả thuận phần tăng thêm này liệu có qua mặt được ban quản lý?./

Cùng một loại rừng, cùng cơ chế quản lý, nhưng cách thức tính phần trăm ăn chia và phương pháp, hình thức đấu thầu giữa Ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I và Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng hoàn toàn khác nhau.

Theo ông Trần Thanh Nhàn, Phó Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng, tỷ lệ ăn chia giữa ban quản lý và người dân được tính theo hình thức lấy tuổi rừng nhân cho 6% để ra tỷ lệ sản lượng dân được hưởng, có hộ được chia lên đến 85% giá trị khai thác. Đồng thời, mức độ chênh lệch giữa thiết kế khai thác và sản lượng khai thác thực tế khoảng 3%-4%, người dân được tham gia từ khâu đấu giá với nhà thầu cho đến giám sát sản lượng khai thác.

Điều tra của Sĩ Tắc - Nguyễn Phú 

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.