Thứ hai, 7-9-26 08:50:49
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Ðừng để những chính sách kinh tế biển “yểu mệnh” - Bài 2: Nhiều chính sách chưa sát thực tiễn

Báo Cà Mau (CMO) Cùng với Nghị định 67/2014, hơn 10 năm trở lại đây, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách trên lĩnh vực thuỷ sản, trong đó có những chính sách đặc thù cho lĩnh vực khai thác thuỷ sản (một số chính sách hỗ trợ chung). Số lượng chính sách ra đời đã hạn chế, việc tiếp cận, thực hiện, phát huy của ngư dân đối với những chính sách này còn là câu chuyện khó hơn.

Theo thống kê của Sở NN&PTNT, tính từ năm 2010 đến nay, có khoảng 6 chính sách của Trung ương liên quan đến hỗ trợ khai thác thuỷ sản (tỉnh chưa ban hành chính sách riêng nào). Song, trong đó số người dân tiếp cận được (được thụ hưởng) đếm trên đầu ngón tay.

Khó tiếp cận chính sách

Ðầu tiên phải kể đến Quyết định số 48/2010/QÐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi thuỷ sản và dịch vụ khai thác thuỷ sản trên các vùng biển xa. Khi đó, UBND tỉnh đã phê duyệt danh sách 29 tàu (11 tàu làm nghề lưới vây, 18 tàu làm nghề câu mực) đủ điều kiện hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng biển xa. Tuy nhiên, do ngư trường Cà Mau cách quá xa các vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa và DK1, chi phí tiêu hao nhiên liệu rất lớn, chi phí hỗ trợ nhiên liệu lại không đủ cho việc di chuyển đến vùng biển xa; cùng với đó, đặc điểm ngư cụ, kinh nghiệm của thuyền trưởng lại không đảm bảo, hạn chế khi hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng biển này... nên đến nay vẫn chưa có tàu được hỗ trợ theo quy định.

Cửa biển Khánh Hội, huyện U Minh, với số lượng tàu khá lớn nhưng số ngư dân được tiếp cận chính sách rất hạn hẹp.

Phó giám đốc Sở NN&PTNT Châu Công Bằng nhìn nhận: “Chính sách rất ý nghĩa, vừa mang tính hỗ trợ khai thác biển, vừa bảo vệ an ninh chủ quyền vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ có vài trường hợp triển khai nhưng buộc phải dừng lại do không phù hợp thực tiễn khai thác, đánh bắt của địa phương”.

Chính sách “Giảm tổn thất trong nông nghiệp” năm 2013 do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 68/2013/QÐ-TTg ngày 14/11/2013. Trong đó, ngân sách Nhà nước hỗ trợ lãi suất vốn vay thương mại để mua máy, thiết bị sử dụng trên tàu cá, tàu dịch vụ hậu cần phục vụ đánh bắt xa bờ. Tỉnh Cà Mau khi đó có triển khai nhưng không nhiều. Do quy định về vốn đối ứng và nghề khai thác đối với hoạt động này vốn cao nên ngư dân không mặn mà với chính sách, chỉ có một số trường hợp cải hoán hầm bảo quản, mua sắm thêm trang thiết bị để bảo quản sản phẩm.

Bám nghề khai thác thuỷ sản đã mấy đời, với 3 chiếc ghe biển (2 chiếc lớn vươn khơi), ông Huỳnh Văn Nhật, Khóm 1, thị trấn Sông Ðốc, huyện Trần Văn Thời mấy chục năm bôn ba nghề biển nhưng khó tiếp cận được những chính sách hỗ trợ khai thác thuỷ sản. Ông Nhật giãi bày: “Có năm được hỗ trợ tiền dầu trên 30 triệu đồng (do dầu lên giá) và tiền bảo hiểm (được 2 năm). Ngư dân ở đây còn khó khăn lắm, cũng muốn vay vốn để nâng cấp, sửa chữa tàu ra khơi nhưng nghề biển ví như nghề "bà cậu", lỡ thế chấp tài sản mà làm ăn thất bát thì trắng tay".

Hơn 20 năm làm nghề khai thác biển, nhưng ông Nguyễn Chí Nhân, Ấp 4, xã Khánh Hội, huyện U Minh chưa một lần được hỗ trợ về khai thác thuỷ sản. Hiện ông Nhân có 2 tàu khai thác mực tại cửa biển Khánh Hội. Ông bộc bạch: “Khai thác biển ngày càng khó khăn, nhất là ảnh hưởng dịch Covid-19, giá dầu tăng liên tục nên ngư dân đánh bắt càng gặp khó khăn hơn. Ðã vậy, làm nghề đánh bắt mấy chục năm, nhưng hầu như các chính sách triển khai các ghe lớn mới đủ điều kiện được hỗ trợ, còn các ghe nhỏ gặp nhiều khó khăn thì không được”. Ông Nhân mong muốn cần có nhiều chính sách hỗ trợ hơn nữa để họ có điều kiện hoạt động, ổn định cuộc sống.

Nguồn lợi thuỷ sản ngày càng cạn kiệt, giá cả bán ra sụt giảm, chi phí ra biển tăng khiến các tàu đánh bắt gặp nhiều khó khăn. (Ảnh chụp tại Cảng cá Sông Ðốc, thị trấn Sông Ðốc, huyện Trần Văn Thời).

Không phải chính sách nào cũng… như hoạch định

Thực tế, chính sách không chỉ khó tiếp cận mà khi tiếp cận thủ tục rất rườm rà với hàng loạt quy định, khiến ngư dân không còn thiết tha, mặn mà với những gì mà mình đáng lẽ được thụ hưởng. Ðiều đó lý giải cho việc vì sao ngư dân không quan tâm với chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 55/2015 (thay thế, bổ sung Nghị định 41/2010). Dù nguồn vốn được vay tối đa 500 triệu đồng (thay vì khoảng 50 triệu đồng so với nghị định cũ), nhưng ngư dân ít tiếp cận được chính sách này, với lý do thủ tục quy định khá nặng nề. “Mặc dù vay tín chấp nhưng khi triển khai, các ngân hàng bắt buộc có nhiều thủ tục, thậm chí phải kê khai tài sản, chứng minh tài sản... Hầu hết các ngân hàng thương mại được chỉ định triển khai chính sách này không mặn mà”, Phó giám đốc Sở NN&PTNT Châu Công Bằng cho hay.

Ðiều đó cũng xảy ra tương tự với Nghị định số 67/2014, chính sách lớn của Chính phủ. Khi triển khai đòi hỏi các thủ tục quy định chặt chẽ mới được giải ngân. Từ xét duyệt về tay nghề, kinh nghiệm trong khai thác, thủ tục phải xác nhận từ chính quyền cơ sở, tới ngân hàng rồi thành lập các ban thẩm định, rất phức tạp. Ðiều đó được đánh giá là cần thiết, bởi số tiền vay vốn lên đến hàng chục, hàng trăm tỷ đồng. Ðó còn chưa kể đến, trong quá trình thực hiện, một số hộ cố tình lợi dụng chính sách làm cho quá trình triển khai bị chậm.

Ông Châu Công Bằng cho hay, hiện nay chỉ khoảng 15-20% "tàu 67" hoạt động hiệu quả, còn lại không hiệu quả dẫn đến nợ xấu ngân hàng. Mặc dù lãi suất được hỗ trợ nhưng với số tiền lớn, mỗi năm người dân phải trả nợ gốc trên 1 tỷ đồng, nên áp lực trả nợ rất nặng nề. Từ nợ xấu kéo dài, ngân hàng buộc lòng thu hồi vốn qua cơ quan pháp lý khi đã có trường hợp bị khởi tố chờ bán tài sản, một số ít được khoanh nợ chờ xử lý.

Thực trạng này không chỉ do hiệu quả khai thác thuỷ sản giảm sút, mà còn “cộng hưởng” bởi sự thay đổi chính sách của Chính phủ. Sau Nghị định 67/2014, Chính phủ ban hành Nghị định 17/2018, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014, thay đổi lớn so với nghị định cũ, khiến ngư dân càng điêu đứng.

Chính sách này hầu như “cắt bỏ” mọi hỗ trợ trước đây theo Nghị định 67/2014 cho ngư dân. Trong đó, bãi bỏ chính sách hỗ trợ dịch vụ hậu cần nghề cá (hỗ trợ 400-600 triệu đồng/năm tuỳ công suất). Ðiều này gây khó khăn cho ngư dân, vì dịch vụ hậu cần phục vụ tàu khai thác, 1 chiếc phục vụ nhiều chiếc để giảm bớt chi phí cho đội tàu khai thác trên biển. Ðồng thời, Nghị định 17 cũng giảm mức hỗ trợ bảo hiểm từ 70-90% xuống còn 50%, gây khó khăn cho dân.

Không những vậy, Nghị định 17/2018 còn điều chỉnh chính sách tín dụng cho vay, sửa chữa, đóng mới, nâng cấp tàu. Trước đây, Nhà nước hỗ trợ lãi suất 7% (ngư dân chỉ đóng 2%). Còn Nghị định 17/2018, Nhà nước hỗ trợ 1 lần sau đầu tư. Nghĩa là người dân đóng tàu thì Nhà nước hỗ trợ 1 lần bằng 35%, không lãi suất. Do số tiền bỏ ra 1 lần quá lớn nên người dân không có khả năng, và việc cho vay thương mại đối với khai thác thuỷ sản có rủi ro cao nên từ khi ra đời đến nay, Cà Mau chưa đóng được chiếc tàu nào.

Như vậy, có thể thấy rằng, chính sách lớn, nhân văn, ý nghĩa nhưng khó phát huy hiệu quả, ngoài nguyên nhân từ một bộ phận ngư dân thiếu ý thức trách nhiệm, không đủ năng lực tài chính, trình độ kinh nghiệm quản lý sản xuất khi thụ hưởng chính sách, ngân hàng e dè những rủi ro từ ngành khai thác thuỷ sản, thủ tục rườm rà, ngư dân khó tiếp cận thì phải kể đến bản thân các chính sách có nhiều bất cập, trong quá trình thực hiện các điều kiện thay đổi.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính được ông Châu Công Bằng thẳng thắn chỉ ra, đó chính là do khi ban hành chính sách không sát với thực tiễn, bởi đặc điểm ngành nghề vùng miền khác nhau, mà trong quá trình thực hiện không sửa đổi kịp thời, dẫn đến hậu quả khá nghiêm trọng. Rồi khi xây dựng chính sách, dự thảo chính sách được các địa phương đóng góp thường ít được sửa đổi, chủ yếu các bộ, ngành tham mưu, thường không sát với điều kiện sản xuất của từng địa phương, từng vùng, nhưng phải qua thời gian dài mới được sửa đổi dẫn đến hậu quả khó lường./.

 

Hồng Nhung - Hồng Phượng

BÀI CUỐI: ÐỂ NGƯ DÂN KHÔNG ÐƠN ÐỘC

 

Ðể di sản trở thành nguồn lực phát triển - Bài cuối: Vun bồi cho nguồn lực nội sinh

Là vùng đất hội tụ nhiều lớp trầm tích văn hoá của miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc bảo tồn di sản không chỉ là giữ lại những giá trị của quá khứ, mà quan trọng hơn là vun bồi để di sản tiếp tục sống và tạo ra những giá trị mới mà không đánh mất bản sắc.

Giữ mạch sống đồng quê - Kỳ cuối: Giữ cá hôm nay - Giữ quê ngày mai

Những năm gần đây, cá đồng vùng ngọt Cà Mau ngày một ít dần. Bên cạnh tác động của thời tiết, môi trường, tình trạng khai thác thiếu kiểm soát, nhất là các hình thức tận diệt, khiến nguồn lợi suy giảm.

Giữ mạch sống đồng quê

Ngày trước, cứ mùa mưa, nước tràn đồng là cá theo con nước tìm về, nuôi sống bao thế hệ người dân vùng ngọt Cà Mau. Nay, những mùa cá đầy đồng thưa dần. Nguồn lợi suy giảm, tình trạng khai thác tận diệt đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giữ lại không chỉ một nguồn sinh kế, mà cả hệ sinh thái và những giá trị văn hoá gắn với đồng quê. Tuyến bài “Giữ mạch đồng quê” nhìn từ thực trạng suy giảm nguồn lợi cá đồng, tác động của khai thác thiếu kiểm soát và những nỗ lực cứu vãn đang được triển khai. Thay đổi cách khai thác, phục hồi môi trường sống, gắn bảo tồn với sinh kế là hướng để con cá trở lại đồng quê Cà Mau một cách bền vững.

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.