Thứ bảy, 29-8-26 04:21:30
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Lạt mềm buộc chặt

Báo Cà Mau

Lạt dừa dùng để lợp nhà, vừa chặt, vừa chắc và bền bỉ.

Thằng con trai đọc sách, gặp câu tục ngữ lạ, nó chạy lại hỏi mẹ:

- Lạt mềm buộc chặt nghĩa là gì vậy mẹ?

Mẹ nó cười, nụ cười thật tươi rồi bảo:

- Hỏi ba con kìa!

Thằng nhỏ chạy sang bên này, mẹ nó nhìn theo, mắt hấp háy đầy ngụ ý.

Tôi lấy “sở học” của mình, cố giảng giải cho thằng con nghĩa của câu tục ngữ giàu hình tượng ấy một cách dễ hiểu và trực quan nhất theo khả năng nhận thức của nó. Sẵn nhớ lại chuyện cũ, tôi kể cho con nghe về thời thơ ấu của mình, với những kỷ niệm gắn liền với cọng dây lạt, thứ xa lạ với đám con nít và không ít người trẻ bây giờ.

Hồi còn tiểu học, nghỉ hè, thỉnh thoảng ba má lại cho tôi theo về thăm ngoại. Hình ảnh đầu tiên tôi thấy khi xuồng cập bến nhà ngoại, mười lần như một là ông ngoại đang ngồi chẻ lạt dừa bên hè. Ngoại tóc bạc phơ, búi củ hành, tay cầm cây mác cán dài chẻ lạt. Bên cạnh ông là đống bập bè to và mớ lạt dừa chẻ dở. Trong gian bếp nhà ngoại, có nhiều bó lạt dừa lớn, để dành lợp nhà, lợp chuồng trâu, chuồng heo… hàng xóm có ai mua thì ngoại cũng bán.

Ðược ở chơi vài ngày, tôi hay lân la theo ngoại đi xắn bập bè về, ngồi coi ngoại chẻ lạt. Mớ nào xong thì giúp ông ôm ra sân phơi, chiều lại gom vô bó lại, trông như những bó nhang khổng lồ.

Nhà tôi ngày ấy còn nhiều dừa nước trong các con mương vườn và dọc bờ sông. Ba má và các anh chị tôi cũng hay chẻ lạt dừa, lớp xài, lớp để dành.

Nhà xa chợ, dây chạc vừa hiếm, vừa khó mua thì những bó dây lạt rất hữu dụng với nhà nông. Nhà nào cũng chẻ ít nhiều dùng để buộc đồ, lợp nhà, bó mạ… Chất liệu để làm lạt rất phong  phú như cà bắp, bập bè của cây dừa nước; dây lác, lớp vỏ mỏng trên sóng lá dừa tươi, hay dây choại (mà bà con quen gọi là “dây chại”). Hồi nhỏ, ở nông thôn hay thấy các xuồng bán dây choại khô làm lạt, tôi đoán họ là dân cư từ vùng rừng ra. Dây choại già được phơi khô rồi cột thành từng bó, xoắn chặt vào nhau như những bím tóc đỏ au, to bằng bắp chân người lớn. Ba tôi hay mua dây choại, để dành bện những tấm đăng bằng sậy để đặt đó bắt tôm, cá dưới sông hay trong các mương vườn. Dây choại cũng có thể đan lọp, đan bống đuổi chuột và nhiều vật dụng hữu ích trong nhà. Tuy dây lạt có nhiều loại, nhưng phần lớn đều cứng và khá giòn, thứ duy nhất được dùng để lợp nhà là lạt dừa, bởi thứ lạt này mềm, khi buộc vừa chặt, vừa chắc và bền bỉ.

Bà con ở nông thôn xưa phần lớn lợp nhà bằng lá dừa nước. Nhà lá ở thì mát mẻ, nhưng chỉ vài ba năm là hư, phải thay lá mới. Khi lớp lá trên mái nhà bắt đầu mục, bong ra từng mảng trôi theo nước mưa, làm nước chứa trong lu, mái chuyển màu sầm sậm là cả nhà rục rịch chuẩn bị lá lợp mới và công việc không thể bỏ qua là chuẩn bị mớ lạt dừa để lợp nhà.

Sau khi đốn lá dừa nước đem phơi, những chiếc bập bè lớn, đẹp và ít bị lỗi được xắn, gom về.

Bập bè khoác một lớp “áo” màu nâu sẫm bên ngoài, tuy mỏng nhưng rất cứng cáp, kế đó là lớp thịt mềm, trắng nõn bên trong. Vỏ dừa nước được róc ra sao cho vừa có phần “áo”, vừa có phần thịt với tỷ lệ cân đối, sau đó dùng dao nhọn (thường là mác vót) chẻ thành những sợi mỏng cỡ phân nửa ngón tay út rồi đem phơi.

Lạt dừa phơi nắng vài ngày thì lớp thịt héo lại, cọng lạt teo còn chừng phân nửa kích cỡ ban đầu, tức bằng chiếc đũa ăn là có thể sử dụng được. Chiều dài cọng lạt tuỳ theo kích thước cái bập bè, nhưng thường từ 5-7 tấc.

Ðể lợp một căn nhà cần rất nhiều dây lạt dừa, có khi đến vài bó lớn. Lạt dừa mềm mại, có thể dễ dàng quấn được nhiều vòng. Ðuôi lạt cứng, đâm nhẹ là xuyên qua lớp lá. Ngoài ra, bề mặt lạt nhám, kết hợp với mặt tiếp xúc sần sùi của lá dừa và đòn tay sẽ tạo thành những mối buộc rất chắc chắn. Ngoài lợp mái nhà, lạt dừa còn dùng để dừng vách, buộc nối các đầu cây gỗ với nhau. Lạt dừa càng mềm, dẻo thì mối buộc càng chặt, không làm tốc mái nhà hay bung vách mỗi khi mưa to gió lớn. Nếu lạt dừa phơi quá khô, chỉ cần phun vào bó lạt ngụm nước là được.

Nhờ đặc tính mềm, dẻo mà lạt dừa được nhà nông ưa chuộng. Thu hoạch xong vụ mùa, lúa hột vô bao hay gạo đi chà về thì cột miệng bao chắc chắn phải dùng lạt dừa.

Gần Tết, nhà nào làm heo chia thịt, khách ra về ai cũng cầm lủng lẳng mớ thịt, được xiên bằng cọng lạt dừa quen thuộc.

Tuổi thơ tôi gắn bó với những ngày theo người lớn đi đốn bập bè, rồi bè chúng dưới ao, đưa về nhà. Khi người lớn làm việc, tụi con nít tranh thủ tìm hớt cá lia thia, hoặc đốn những quày dừa nước vừa ăn, chẻ ra thưởng thức tại chỗ.

Bập bè đem về, sau khi đã róc vỏ lấy nguyên liệu làm lạt, phần thân bỏ đi, đám trẻ chúng tôi tận dụng cắt ra tạo hình thành súng ngắn, súng dài, lựu đạn… rồi chơi trò đánh trận giả, đuổi bắn nhau. Hôm nào rảnh rỗi, cả đám ngồi tỉ mẩn cắt cắt, ghép ghép bập bè vụn thành những mô hình ngộ nghĩnh như rô-bốt, thuyền buồm, tàu chiến, máy bay… mà phổ biến nhất là những chiếc ca nô, rồi buộc dây, dùng cây kéo trên mặt nước đánh nhau loạn xạ. Những cái bập bè còn nguyên dư ra, chúng tôi dùng cây đóng xiên vào nhau làm bè để bơi trên sông.

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, chúng tôi không biết lợp nhà thì giúp người lớn kéo lá, đưa lạt. Chính những ngày lao động ấy đã giúp hình thành vốn sống quý báu sau này, mà câu chuyện “lạt mềm buộc chặt” cũng từ đó mà ra, không cần ai giải thích. Tất nhiên, với độ tuổi của những đứa trẻ con, chúng tôi chỉ hiểu câu tục ngữ ấy theo nghĩa đen, chính kinh nghiệm sống sau này, rồi khi đã lập gia đình, có con… khiến ý nghĩa sâu xa của câu “lạt mềm buộc chặt” dần ngấm vào người lúc nào không rõ.

Nhà lá ít đi, đồng nghĩa với người ta ít sử dụng dây lạt hơn, lạt dừa cũng không được mấy ai nhắc tới. Nhiều gia đình nông thôn cất nhà lá, dùng các loại dây công nghiệp để lợp, có vẻ tiện dụng hơn mà lại khỏi mất công đi chẻ lạt dừa. Hôm rồi, tình cờ tạt qua chợ Cơi Năm, tôi thấy vài tiệm tạp hoá còn bán lác đác mấy bó lạt dừa cũ mốc, có lẽ chúng đã nằm đó chờ khách lâu rồi. Tuy không còn phổ biến như xưa, nhưng những bó lạt dừa vẫn còn ít nhiều hữu dụng, tôi tin thế.

Những ngày giãn cách xã hội, áp lực việc làm, những lo toan cơm áo gạo tiền khiến tâm lý con người dễ dàng bị tác động tiêu cực. Cáu bẳn, cãi vã… thỉnh thoảng lại xảy ra, khi đó rất cần trong nhà có một cái đầu bình tĩnh để giải quyết ổn thoả. Xử lý việc nhà theo tinh thần “lạt mềm buộc chặt” trong trường hợp này là vô cùng cần thiết. Tôi vốn nóng tính, việc bà xã “đá quả bóng” giải thích câu tục ngữ cho con sang phần sân của tôi cũng có cái lý, rất tinh tế và thâm thuý của cô ấy.

Ngẫm lại, trong thời điểm khó khăn, có gần gũi bên nhau, cùng nếm trải và vượt qua, người ta mới thấy giá trị của tình thân, của gia đình, rồi quê hương to lớn thế nào. Những thứ ấy, trong cuộc sống ồn ào, vội vã, có thể lúc nào đó chúng ta xem nhẹ, hoặc lãng quên đi, nhưng khi có dịp nhìn lại mới thấy đó là những điều thiêng liêng nhất, cần chung tay gìn giữ.

Gia đình, người thân, quê hương là những sợi lạt mềm, nhưng lại buộc ta rất chặt.

Và ta sung sướng với “sự ràng buộc” đó!

Cà Mau, ngày 1/9/2021

 

Tuấn Ngọc

 

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.