Thứ bảy, 29-8-26 08:59:58
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Những con số "biết nói"

Báo Cà Mau (CMO) Bảy Ánh gầy gò như cây khô, da đen nhẻm, bộ đồ đi ruộng áo phèn vàng, chữ nghĩa chỉ lớp 4, thẳng tính như ruột ngựa, nhìn là biết “Made in nông dân” chính hiệu. Nhưng hơn chục năm nay, dân Tân Thành nói, cứ bình quân mỗi năm, Bảy Ánh có gần 200 "học trò" là nông dân ở khắp nơi trong cả nước tìm đến học nuôi cá chình. Ngày 13/10/2017, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tuyên dương 67 nông dân xuất sắc của cả nước trong 30 năm đổi mới, Bảy Ánh là đại biểu nông dân duy nhất ở Cà Mau có mặt.

Câu chuyện nông dân Bảy Ánh trở thành “tỷ phú” nuôi cá chình, “giáo sư” nuôi cá chình và có mặt tại Hà Nội trong năm nay bắt đầu từ năm 1995. Bảy Ánh tên thật Nguyễn Hữu Ánh, sinh năm 1957, quê quán ở Ấp 2, xã Tân Thành, nay là Khóm 1, phường Tân Thành, TP Cà Mau.

Gia đình ông Bảy Ánh rất nghèo, nhà chỉ có 15 công ruộng, cha mẹ ông phải nuôi tới 7 người con, Bảy Ánh là con trai út trong gia đình. Năm nào nhà ông cũng thiếu ăn vào mùa giáp hạt, mấy anh chị lớn không được đi học mà phải theo cha mẹ đi làm đất mướn. Bảy Ánh cũng không ngoại lệ, ông học được tới lớp 4, cũng phải bỏ học theo cha mẹ đi làm đất mướn. Năm 18 tuổi, Bảy Ánh trốn quân dịch 1 năm thì giải phóng. Trong thời gian trốn quân dịch, Bảy Ánh quen được cô Lê Thị Phúc, người cùng xã, cũng là bạn đời của ông.

Niềm vui của ông Bảy Ánh với chiếc Cup vừa được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khen tặng vào ngày 13/10/2017. Ảnh: ÁI NHƯ

Sau khi lập gia đình, cha mẹ chia cho vợ chồng ông 6 công đất, nhà còn 9 công. Bên vợ Bảy Ánh cũng nghèo. Vợ chồng Bảy Ánh nuôi cha mẹ già, 4 người con, cuộc sống rất khó khăn. Từ năm 1975-1990, gia đình Bảy Ánh luôn thiếu ăn mùa giáp hạt, Bảy Ánh phải đi làm đất mướn, vợ ông thì dệt chiếu mướn.

Năm 1995, dân Tân Thành đã biết nuôi cá bống tượng trong mương vườn, ao vườn, mặt nước ruộng tự nhiên hiệu quả, nhưng nuôi cá chình thì chưa. Bảy Ánh là người duy nhất ở xóm nuôi cá chình. Ông nghe theo lời tay lái cá giống, mang cá chình về nuôi trên đồng đất xứ mình, mà theo lời nhiều người lúc bấy giờ, không ai biết nuôi cá chình được hay không, quan trọng hơn, không ai biết đầu ra của cá chình như thế nào, thương lái có mua không, vợ chồng Bảy Ánh coi chừng bị tay lái cá giống dụ rồi!

Thật ra, vợ chồng Bảy Ánh lúc bấy giờ cũng mù mờ và liều mạng là chính. Bởi tay lái cá giống bống tượng cho dân Tân Thành chỉ hứa với vợ chồng Bảy Ánh rằng, ông cứ nuôi cá chình đi rồi tụi tôi mua! Nhưng ai cũng biết lời hứa đó mơ hồ như thế nào, vợ chồng Bảy Ánh cũng biết vậy, vì không có một cam kết gì chắc chắn từ tay lái cá, nhỡ nuôi tới chừng đó họ không mua thì làm gì được nhau, nên mọi người đều ngại.

Vợ chồng Bảy Ánh vượt qua được cái ngại này cũng xuất phát từ nghèo. Trước đó, năm 1991, Bảy Ánh theo dân Tân Thành nuôi cá bống tượng. Với dân có vốn, đầu tư nuôi cá bống tượng là chuyện bình thường, bởi lẽ thời điểm đó, cá giống bống tượng tự nhiên ở miệt trên mang xuống rẻ rề, cá mồi cho nuôi cá bống tượng lại tự kiếm được, người nuôi cá bống tượng không phải mua cá mồi, đầu tư nuôi cá bống tượng vốn không nhiều. Nhưng với một gia đình luôn thiếu ăn vào mùa giáp hạt như vợ chồng Bảy Ánh thì đây lại là một chuyện khác. Phải khó khăn lắm, ông mới nuôi được 2 ao cá bống tượng, diện tích nửa công đất. Nhờ nuôi 2 ao cá bống tượng, với diện tích nửa công đất, đến mùa giáp hạt, cái thiếu ăn trong gia đình Bảy Ánh đỡ hơn trước rất nhiều.

Ông Bảy Ánh hướng dẫn cách cho cá chình ăn. Ảnh: ÁI NHƯ

Đó cũng là động cơ thuyết phục vợ chồng Bảy Ánh đến với đối tượng nuôi mới là cá chình. Ông nghĩ, theo lời tay lái cá giống nói, cá chình khác với cá bống tượng. Nuôi cá bống tượng phải đúng trọng lượng theo yêu cầu của thương lái đặt ra mới có giá cá hạng nhất, không đủ trọng lượng, hoặc huốt trọng lượng, cá sẽ rớt giá xuống hạng nhì, tỷ lệ rủi ro cũng khá cao. Nuôi cá chình thì khác, cá càng có trọng lượng thì càng có giá trị, tỷ lệ rủi ro thấp, đó là điều kiện lý tưởng cho những người ít vốn nuôi như bỏ ống. Vợ chồng ông nghe phù hợp với điều kiện khó khăn của mình. Vậy là cũng với 2 ao nuôi cá bống tượng, diện tích nửa công đất, Bảy Ánh gom vốn liếng thả nuôi 400 con cá chình.

Năm 1997, tức là sau gần 2 năm nuôi, cá chình có trọng lượng từ 2-4 kg/con, tay lái cá giống đến coi và đồng ý mua. Cả vợ chồng Bảy Ánh và dân xóm không ngờ, 2 ao cá chình của vợ chồng Bảy Ánh bán được hơn 32 triệu đồng, tương đương gần 15 cây vàng vào thời điểm lúc bấy giờ. Vợ chồng Bảy Ánh cầm 32 triệu đồng trong tay mà vui muốn khóc, dân xóm cũng vui lây.

Sau vụ cá đó, Bảy Ánh mua thêm 8 công đất ruộng, nâng lên gia đình có 17 công đất, mục đích của ông là để mở mang sản xuất, có cái chia cho con cái sau này và chính thức bắt tay vào nuôi cá chình. Năm 1999, cũng với 2 ao nuôi cá chình và nuôi thêm cá chình, bống tượng trên mặt nước ruộng, vợ chồng Bảy Ánh lại trúng cá chình như lần đầu tiên, mua thêm 8 công đất ruộng, nâng tổng diện tích đất lên 25 công.

Năm 2001, vợ chồng Bảy Ánh lại tiếp tục trúng cá chình, lợi nhuận hơn 20 cây vàng, mua thêm 8 công đất ruộng, nâng tổng số lên 33 công. Mốc đáng nhớ của Bảy Ánh là năm 2003, ông phát triển lên được 12 ao nuôi cá chình, mỗi ao có diện tích từ 800-1.000 m2.

Cũng trong năm đó, ông thu hoạch cá chình đạt tới con số hơn 600 triệu đồng, được nhiều người biết đến, coi như “giáo sư” nuôi cá chình cũng kể từ đó.

Cá chình sống trong môi trường nước ngọt, nước lợ. Thời gian nuôi cá chình trong vòng 18 tháng, cá đạt trọng lượng từ 2 kg/con trở lên mới thu hoạch, nếu có điều kiện nuôi thêm vài tháng, cá đạt trọng lượng cao hơn thì càng có giá trị cao. Cá mồi cho cá chình rất dễ tìm, có thể là cá tạp, xứ Tân Thành cá phi có rất nhiều 10.000 đồng/kg. Thời gian cho cá chình ăn 2 ngày 1 lần, vào buổi chiều.

Thiết kế ao nuôi cá chình của Bảy Ánh cũng không phức tạp lắm, từ bờ trở ra 4 m, sâu 1,5 m, bao quanh hầm nuôi, còn lại toàn bộ diện tích là cồi cách mặt nước 4 tấc. Dân Đại học Nông nghiệp Cần Thơ còn coi Bảy Ánh như “giáo sư” nuôi cá chình bởi ông nghĩ ra được hai điều không có ở trường.

Khi thả cá chình, Bảy Ánh căng một miếng lưới trên mặt ao để đuổi còng cọc vô cùng hiệu quả. Rồi trong thời gian nuôi 18 tháng, Bảy Ánh chuyển chỗ ở cho cá trong ao hai lần. Đám cá chình trong ao khoái ở nhà mới hay sao không biết, con nào con nấy cứ mạnh như voi, lớn như thổi.

Từ năm 2005-2015, vợ chồng Bảy Ánh mua thêm 15 công đất ruộng, nâng tổng số lên 48 công, phát triển 33 hầm nuôi cá chình, mỗi hầm có diện tích từ 800-1.000 m2, thu nhập bình quân mỗi năm hơn 1,5 tỷ đồng. Ông được mệnh danh “tỷ phú cá chình” của xứ Tân Thành cũng từ đó. Riêng năm 2016, Bảy Ánh nuôi cá chình đạt tới con số thu nhập hơn 2 tỷ đồng. 9 tháng năm 2017, ông đạt con số gần 2 tỷ đồng, những con số đều "biết nói".

Giờ khi nhắc lại cái thời làm đất mướn, cái thời thiếu ăn vào mùa giáp hạt, vợ chồng Bảy Ánh cười rằng, làm sao quên được chứ. Đó cũng là lý do, cho đến bây giờ, Bảy Ánh vẫn giữ lại một ao nuôi cá bống tượng để làm kỷ niệm, chứ không phải làm kinh tế. Ao cá bống tượng như nhắc ông luôn nhớ cái thuở sơ khai, nhờ 2 ao cá bống tượng, vợ chồng ông mới qua được cái thiếu ăn mùa giáp hạt, nhờ 2 ao cá bống tượng, vợ chồng ông mới có được ít vốn nuôi 400 con cá chình đầu tiên và làm thay đổi cuộc đời vợ chồng ông như hôm nay.

Ao cá bống tượng kỷ niệm còn giúp ông luôn nhớ và không bao giờ quên quê hương. Từ đó, Bảy Ánh luôn sẵn lòng san sẻ với tất cả những ai muốn nuôi cá chình, muốn làm giàu từ con cá chình. Ông đã giúp rất nhiều nông dân khó khăn ở Tân Thành về kỹ thuật, cá giống, vốn để nuôi cá chình. Mong muốn lớn nhất của tỷ phú này là quê hương có nhiều tỷ phú…/.

Ái Như - Hồng Thía

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.