Thứ bảy, 29-8-26 14:03:27
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Về đâu làng nghề đan đát

Báo Cà Mau (CMO) Trải qua biến đổi, thăng trầm của thời gian, dọc theo con sông Cái Tàu, làng nghề đan đát truyền thống xã Nguyễn Phích, huyện U Minh vẫn còn hiện hữu. Những cái rổ, cái nia, xịa vẫn đẹp bình dị, mộc mạc, bởi bàn tay của những “nghệ nhân miệt vườn”.

Nguyên liệu để làm ra sản phẩm đan đát chủ yếu là trúc. Thế nhưng, những năm gần đây, việc người dân đưa nước mặn vào nuôi tôm làm cho diện tích trồng trúc dần bị thu hẹp. Thiếu nguyên liệu, nếu không phục hồi và mở rộng diện tích trồng trúc thì nghề đan đát truyền thống ở xã Nguyễn Phích có thể chỉ còn là hồi ức.

Vang bóng một thời

Không đan thúng hay mê bồ như ở Tân Bằng, làng nghề đan đát ở Nguyễn Phích chủ yếu đan những vật dụng nhỏ, được sử dụng hằng ngày như: rổ, xịa, xề, nia, giần, sàng. Đó là những vật dụng tưởng chừng như đã bị lãng quên nhưng đến nay vẫn được người dân Cái Tàu gìn giữ.

Làng nghề đan đát Nguyễn Phích hình thành từ những ngày mở đất. Làng nghề tập trung nhiều từ Ấp 1 đến Ấp 5 với hơn một trăm hộ làm nghề. Sau giải phóng, nghề đan đát trở thành nghề tạo thu nhập chính của người dân nơi đây. Với bàn tay khéo léo, một ngày, mỗi người có thể làm ra 2 cái rổ, hoặc 3 cái xịa; còn đàn ông thì làm những việc nặng nhọc như như chặt tre, chẻ trúc, vót vành.

Chị Nguyễn Thị Thu (Ấp 5, xã Nguyễn Phích) đã biết lận nan, đan rổ khi mới 16 tuổi. Gắn bó với nghề đan đát ngót nghét đã hơn 30 năm, bây giờ tóc đã có vài sợi bạc, nhưng chị vẫn trụ lại với nghề đan đát này. Chị Thu tâm sự: “Hồi đó làm nghề này thu nhập khá nên mê lắm, mà thời đó một cái rổ có 4 – 5 ngàn đồng. Đan tới phồng tay luôn mà. Rồi tôi lấy chồng, sinh con, tới giờ vẫn còn đan. Dù có nhiều nghề khác mang lại thu nhập cao hơn nhiều nhưng đã quen với nghề này rồi, bỏ không được”.

Bà Võ Thị Phấn (67 tuổi, Ấp 2, xã Nguyễn Phích) tay đã run nhưng vẫn rất nhanh nhẹn lận từng sợi nan. Từ những năm chồng bà đi kháng chiến đến khi giải phóng, cả gia đình mới được đoàn tụ, nhưng cũng chưa được cùng nhau quét vôi ăn trầu thì ông mất. Bà vẫn ở vậy, đan đát, nuôi con. Trong xóm, những người cùng thời với bà không còn được mấy ai. Dù đã ở cái tuổi gần đất xa trời nhưng bà vẫn miệt mài với cái nia, cái rổ.

Để duy trì nghề đan đát người dân phải đi mua nguyên liệu ở địa phương khác.

Bà Phấn bồi hồi nhớ: “Tôi thấy má làm rồi ngồi kế bên học đan, lận nan rồi biết làm hồi nào không hay. Cả nhà 4 người đan chừng một tuần được cỡ 60–70 cái rổ, cái giần là bán cho ghe. Ghe chạy vô tới đầu kinh, mỗi nhà bơi xuồng nhỏ chở ra đó đếm bán. Mấy chiếc ghe đi Năm Căn, Ngọc Hiển, Thới Bình, có khi qua Bạc Liêu, Kiên Giang để bán, chừng vài ba ngày là hết. Hồi đó toàn xài đồ đan bằng tre, bằng trúc, đâu có đồ nhựa, đồ nhôm như bây giờ. Khi đan phải hết sức tỉ mỉ, chọn trúc, tre mỡ chứ không phải tre tàu nên sản phẩm làm ra đẹp mắt lẫn chất lượng, xài 6 – 7 năm mà chưa hư”.

Đừng để thành ký ức

Trước đây, làng đan đát xã Nguyễn Phích có trên 100 hộ làm nghề. Để hỗ trợ nhau về vốn và nhân công, xã Nguyễn Phích thành lập nhiều tổ hợp tác đan đát, nhưng đến nay chỉ còn 2 tổ hoạt động ở Ấp 5 và Ấp 2 và số thành viên cũng giảm dần, chỉ còn khoảng 20 người. Các tổ còn lại do không có trúc và tre để mua làm nguyên liệu nên không còn hoạt động.

Chị Nguyễn Thanh Tuyền (Ấp 2, xã Nguyễn Phích ) nói: “Thanh niên xóm này ai cũng biết đan, nhưng không ai theo nghề, mà đi Bình Dương, Sài Gòn làm, hoặc đi làm công ty trong tỉnh có thu nhập cao hơn. Chỉ còn mấy bà, mấy cô, mấy chị ở nhà tranh thủ bếp núc, chuyện nhà rồi mới ngồi đan vì vừa kiếm thêm thu nhập, vừa không muốn bỏ nghề truyền thống. Ở đây thu nhập chính dựa vào con tôm chứ thiệt tình cả nhà chỉ làm nghề này thì không sống nổi”.

Bà Lê Thị Cẩm Giang, Tổ trưởng Tổ hợp tác đan đát Ấp 2, xã Nguyễn Phích, ngậm ngùi: “Bây giờ học nghề không khó, cái khó là có sống được với nghề hay không vì không phải ai cũng kiên trì được với nghề đan đát này. Mỗi tháng tranh thủ đan nhiều lắm cũng được 60 - 70 cái. Rồi đếm bán cho xe, xuồng, ghe tới mua, trừ chi phí tre, trúc, dây gân, mỗi hộ lời chưa được 1 triệu đồng”.

Bà Nguyễn Thị Khiếm, năm nay đã 68 tuổi (Ấp 2, xã Nguyễn Phích), là một trong số ít người còn giữ mảnh vườn trồng trúc sau nhà. Gần 40 bụi trúc đã hơn 30 năm, tới mùa bà mới bán cho người làm nghề đan. Khi thảnh thơi là bà ra vườn, tự tay bón phân, vun gốc, chặt nhánh cho từng cây trúc.

Bà Nguyễn Thị Khiếm chăm sóc những bụi trúc còn lại của gia đình.

Bà Khiếm kể lại: “Mấy chục năm trước, cả mảnh vườn gần 1 ha này trồng toàn trúc. Sau này chuyển qua nuôi tôm phải phá bỏ hết, tôi kêu mấy đứa nhỏ chừa lại một ít bụi sau nhà để nhớ về nghề của ông bà”.

Ông Lê Trung Kiên, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Phích, cho biết, hiện diện tích trồng trúc của xã bị thu hẹp, chỉ còn khoảng 1 ha, không đủ cung cấp nguyên liệu làm nghề. Do người dân lấy nước mặn vào ruộng nuôi tôm và chuyển qua trồng các loại cây ăn trái khác nên số hộ làm nghề đan đát cũng dần ít đi. Chính quyền địa phương đang vận động bà con tận dụng đất trống để trồng lại trúc, tre nhằm duy trì nghề này. Thế nhưng xem ra, để người dân làm giàu từ nghề thì lời kêu gọi suông là chưa đủ.

Thiếu nguyên liệu, nghề đan đát truyền thống có nguy cơ mai một.

Giờ đây, dọc theo con sông Cái Tàu, hình ảnh những chiếc ghe nườm nượp chở đầy rổ, nia, xịa không còn nữa. Những rặng trúc mọc sau nhà cũng thưa thớt dần, thay vào đó là những đầm tôm mênh mông. Tiếng cười nói của các anh ngồi chẻ tre, các chị ngồi đan cũng không còn nữa. Người nặng tình với nghề cũng chỉ còn vài người cố cựu muốn lưu giữ lại nghề truyền thống này...

Phóng sự của Thảo Mơ

Chị Lữ Thu Hồng, Phó chủ tịch Hội Phụ nữ xã Nguyễn Phích, trăn trở: “Hội LHPN tỉnh cũng có hướng hỗ trợ tổ đan đát, nhưng cái khó không phải thiếu vốn mà thiếu nguyên liệu. Bây giờ muốn đan phải đi kiếm mua trúc khắp nơi. Còn tre, trúc bên Tân Bằng, Biển Bạch chủ yếu bán cho các ghe ở các tỉnh trên về mua với số lượng lớn, chứ không bán lẻ. Điều cần thiết nhất bây giờ là giải pháp phục hồi và mở rộng diện tích trồng trúc, để có nguồn nguyên liệu cũng cấp cho những hộ làm nghề đan đát tiếp tục duy trì nghề truyền thống này”.

 

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.