Không rõ từ cơ duyên nào, trong những cuộc toạ đàm, chuyến đi tìm dấu vết cơ quan Tỉnh uỷ trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và 20 năm chống đế quốc Mỹ, lại thường thấp thoáng bóng ông lão dáng quắc thước, tóc và chân mày bạc trắng, tay lúc nào cũng cầm cây gậy quen thuộc. Ở ông, lời nói không bao giờ chỉ là kể lại mà còn luôn khắc khoải nỗi ân tình. Ông là Nguyễn Thái Thuận, người đã đồng hành với chúng tôi tìm về những địa chỉ đỏ.
- Khu nhà truyền thống của Đảng bộ huyện Hồng Dân: “Địa chỉ đỏ” giáo dục thế hệ trẻ
- Địa chỉ đỏ trên quê hương Trần Phán anh hùng
- Chung tay xây dựng “địa chỉ đỏ” tri ân
Một chuyến, hai chuyến rồi thành nhiều chuyến... Tự bao giờ, khoảng cách tuổi tác như tan biến, thế giới của ông và lớp trẻ sớm hoà quyện, cởi mở, thân thiết tựa như một gia đình. Theo ông, chúng tôi đến Mỹ Thành, Mà Ca (Phú Thuận), Ðất Cháy, Rẫy Mới, Công Ðiền (Phong Lạc cũ), Vịnh Dừa (Hưng Mỹ), Tân Hoà (Tân Thuận), Cây Thơ, Bù Mắc (Ðất Mới), Chín Bộ, điền Chủ Ngãi và hàng chục địa chỉ khác ở rải rác các vùng Cái Nước, Phú Tân, Năm Căn, Trần Văn Thời, Ðầm Dơi. Có ông, ở đâu chúng tôi cũng được đón tiếp như người nhà. Có tháng đi 4 chuyến liền, có ngày xuyên cả 2 huyện, sáng Năm Căn, chiều Trần Văn Thời, hết đường bộ đến đường sông, khi chúng tôi hỏi có mệt lắm không, ông luôn trả lời “không sao”! Vậy là đi tiếp, tất nhiên chúng tôi phải giúp ông lúc lên xuống dốc cầu, thềm nhà, chăm chút trong bữa ăn đạm bạc.
Ðoàn công tác Bảo tàng tỉnh Cà Mau cùng nhân chứng lịch sử tìm về những “địa chỉ đỏ” ở Năm Căn.
Nghe ông kể, chúng tôi thấy ông có quá nhiều chất lãng tử. Thoát ly gia đình 18 năm, 18 cái Tết xa nhà; năm 1955, tên ông không có trong bản kê khai gia đình của chính quyền Diệm; năm 1959 bị lạc trong vùng Cái Nhảy (Hiệp Tùng) suốt cả ngày; năm 1974 rớt xuống giếng sâu hun hút ở Lò Gò (Tây Ninh). Chỉ riêng ngày mà ông có mặt tại Sài Gòn vào 30/4/1975 đã là một giai thoại. Những ngày tháng Tư sôi sục khí thế tiến công, ông đang học lớp báo chí ở R, mới tới phần triết học, ngày 20/4, trường đóng cửa, các học viên ở các tỉnh gần thì tự lực ra về, ở xa thì phải chờ mệnh lệnh mới.
Là cán bộ Khu Ðoàn Tây Nam Bộ, ông chạy sang cơ quan Trung ương Ðoàn miền Nam xin một chân vào đội xung kích. Cùng với chiếc võng, 2 bộ đồ ni lông, một ruột tượng gạo và khẩu K54, ngày ém quân - đêm đi, kể cả nối dây nhau vượt sông, 20 ngày ròng rã, phía trước là vầng sáng Sài Gòn. Sáng 30/4, đặt chân đến Trường huấn luyện Quang Trung (Gò Vấp), 5 giờ chiều có mặt ở Toà Hành chính Quận 3; sáng 1/5, xuất hiện trước hàng ngàn sinh viên ở số 4 Duy Tân, họ nhìn ông - chiến sĩ cách mạng bằng xương bằng thịt, như thần tượng.
Làm cán bộ quân quản Quận 3, trực tiếp phường Yên Ðỗ, ông đã có các cuộc nói chuyện rất chững chạc với hàng trăm nguỵ quân. Nhớ chuyến đi đó, trong bài thơ "Một thoáng tháng Tư" ông đã viết “Nếu tôi chết đất nào cũng làm nên mộ/ Người thân yêu nào biết tôi nằm đâu!”. Ông lý giải, đã là người lính chiến đấu giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, có ai lại không mơ có mặt tại sào huyệt của kẻ thù trong ngày toàn thắng, cơ hội chỉ có một lần. Ở ông có điều cũng lạ, đi qua bao bom đạn, chất độc hoá học, kết thúc chiến tranh, ông không bị một mảnh đạn kẻ thù làm trầy da, chất độc da cam cũng chào thua.
Lúc ngồi trên xe, chúng tôi gợi để ông nói về những câu chuyện thời còn đánh giặc, có lúc ông cũng ngẫu hứng nói điều gì đó rất xa, rất đời. Ông nói nhiều về cái sự đọc sách, đọc sách làm cho con người dễ chịu, thánh thiện, sống chậm hơn, nếu như không nhờ đọc sách thì với lớp Nhất hồi năm 1952, chắc ông đã tái mù. Chỉ cho chúng tôi những cuốn sách có thể tham khảo cho công việc của mình, ông cũng thẳng thừng: ai đó dù có tiến sĩ, thạc sĩ đi nữa mà không thường xuyên đọc sách thì dễ lạc lõng với dòng chảy văn hoá, thờ ơ với việc tử tế.
Ðến với đội ngũ làm sử tỉnh nhà, ông tự nhận là người ngoại đạo, nhưng nhờ hơn chục năm công tác ở văn phòng cấp uỷ, sau đó lăn lộn trong phong trào quần chúng, để ý đến những sự kiện và cả những chi tiết nhỏ, ông nhớ khá nhiều, khá chắc những sự kiện đã diễn ra trong 20 năm chống Mỹ. Có khi ông còn “cãi” lại các chi tiết mà sách đã in, chứng thực sự kiện đã xảy ra. Những chuyến đi về vùng căn cứ cũ, ông nhớ từng nhà, tên từng người (dù người lớn đã mất).
Trong Ðại hội Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ 6 năm 2015, ông có bài tham luận với nhan đề “Món nợ với lịch sử”. Sau đó, ở Hội thảo khoa học “Phong trào đấu tranh của phụ nữ tỉnh Cà Mau trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, ông cũng có bài tham luận “Cuộc đấu tranh trực diện ở Ðầm Dơi và tầm vóc của nó”, rồi các bài viết khắc hoạ thêm những chi tiết về Căn cứ Tỉnh uỷ ở Xẻo Ðước. Gần chục cuộc toạ đàm và chuyến đi thực địa, ông đều có đóng góp xứng đáng. Ông vui khi nhiều gia đình đã có mặt trong dịp vui Tết với Tỉnh uỷ ở Xẻo Ðước mà ông đã chỉ dẫn, thấy nhẹ lòng với món nợ ân tình của bà con.
Ông Nguyễn Thái Thuận (Út Trấn, đi đầu) cùng đoàn công tác Bảo tàng tỉnh Cà Mau tìm về những “địa chỉ đỏ” ở xã Phú Mỹ. (Ảnh chụp tháng 9/2023).
Nhiệt tình, trách nhiệm, ông đã hiến tặng cho Bảo tàng tỉnh gào dai, phảng, cù nèo, nọc cấy, cối đá... những hiện vật dù nhỏ nhưng đều có dáng nước, hồn quê trong đó. Có khi chúng tôi gọi hỏi ông điều gì đó, ông biết thì trả lời ngay, còn chưa chắc thì ông lại gọi hỏi những người lớn tuổi, biết chuyện. Ông rất quan tâm đến những nội dung chú thích hình ảnh, thuyết minh của chúng tôi, đồng thời thân ái, nhẹ nhàng nhắc chúng tôi cần lưu tâm khi tác nghiệp.
Cảm mến ông, tự khi nào chúng tôi đã quen miệng gọi ông là ông ngoại. Ở ông, lúc nào cũng ánh lên cái nhìn bao dung, trìu mến dành cho con cháu, ân cần chỉ dạy, từ những việc lớn lao đến những điều nhỏ nhặt trong đời sống thường ngày. Giữa những chuyến đi dài, hình ảnh ông gượng đứng bên cây gậy nhắc nhở chúng tôi về niềm tin và tình yêu nghề. Ông không chỉ dạy bằng lời sáo rỗng, mà sống như tấm gương tri kỷ, để lứa trẻ thấy mình được lắng nghe, tin cậy.
Ở tuổi 87, ông vẫn miệt mài viết. Hai tập thơ, một tập ký đã là niềm vui lúc về hưu, ông ôm ấp năm sau sẽ có tập ký nữa, đề tài phần lớn là chiến tranh cách mạng. Theo ông, thế hệ hôm nay còn mắc nợ với cha, anh nhiều lắm. Mỗi làng xóm, con kênh, dòng sông, mỗi tấm lòng hiến dâng cho Tổ quốc đều là bể trầm tích của lịch sử chưa được khai thác hết.
Gần cuối cuộc đời, ông đúc kết đơn giản 3 chữ: liều, lãng mạn và yêu nước.
Tháng 11/2025.
Huỳnh Thu Thảo

Truyền hình



Xem thêm bình luận