Thứ ba, 22-9-26 11:00:19
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Tại sao người miền Nam gọi anh Cả là “anh Hai”?

Báo Cà Mau Ngôn ngữ là loại hình văn hoá phi vật thể, phản ánh văn hoá vùng, miền rất rõ nét. Cách xưng hô “anh Cả” ở miền Bắc so với “anh Hai” ở miền Nam là điển hình.

Ngôn ngữ là loại hình văn hoá phi vật thể,  phản ánh văn hoá vùng, miền rất rõ nét. Cách xưng hô “anh Cả” ở miền Bắc so với “anh Hai” ở miền Nam là điển hình.

Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người miền Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là “anh Hai”, “chị Hai”? Ðây là một hiện tượng văn hoá có thể lý giải từ phương pháp tiếp cận liên ngành: ngôn ngữ học, khoa học lịch sử, văn hoá dân gian…

Chữ “cả” trong tiếng Việt có nghĩa là lớn, to lớn (cả giận, cả gan, cả vú lấp miệng em, ao sâu nước cả…), còn có nghĩa khác là tất cả, bao gồm (cả lớp, cả nhóm, cả đời…). Người miền Bắc gọi “anh Cả”, “chị Cả” nghĩa là anh lớn, chị lớn, người được sinh ra đầu tiên trong gia đình. Trong khi đó, người miền Nam không gọi “anh Cả”, “chị Cả” mà gọi là “anh Hai”, “chị Hai”. Hiện tượng này đến nay có một số cách hiểu phổ biến như sau:

Cà Mau là địa điểm cuối cùng của hành trình khai phá đất phương Nam.   Ảnh: VŨ TRÂN

Cách hiểu thứ nhất có nguồn gốc từ nguyên tắc “tứ bất” (bốn không) của triều Nguyễn: “bất thiết Tể tướng, bất thủ Trạng nguyên, bất lập Hoàng hậu, bất phong Ðông cung”, nghĩa là các vua triều Nguyễn không đặt chức Tể tướng, trong thi cử không lấy đỗ Trạng nguyên, không lập Hoàng hậu và không phong Ðông cung Thái tử. Trong đó việc không lập Hoàng hậu và Ðông cung Thái tử vì cho rằng vua Gia Long vì tiếc thương người vợ là Tống Thị Lan và con trai cả là Nguyễn Phúc Cảnh (Hoàng tử Cảnh) nên dành vị trí này để tưởng nhớ người đã mất, từ đó trong dân gian không ai dám gọi con lớn là con cả.

Cách hiểu thứ hai cho rằng liên quan đến yếu tố kiêng kỵ, kỵ huý, do trùng với cách gọi “Hương Cả” là một chức vụ đứng đầu ở làng, xã thời Pháp thuộc. Năm 1904, để quản lý các địa phương ở Nam Kỳ, thực dân Pháp cho thành lập Hội đồng Hương chức (Hội đồng xã, còn gọi là Ban Hội tề) gồm 12 chức vụ: Hương Cả, Hương Sư, Hương Chủ, Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương Giáo, Hương Quản, Hương Bộ, Hương Thân, Xã Trưởng, Hương Hào và Chánh Lục Bộ. Trong đó Hương Cả là chức vụ cao nhất. Người dân không dám gọi con trai lớn của mình là “thằng Cả” vì sợ phạm thượng.

Cách hiểu thứ ba từ tâm lý sợ cọp, có rất nhiều câu chuyện kể về việc những lưu dân thế hệ trước bị cọp bắt, cọp vồ ở khắp các vùng đất Nam Bộ như: Ðồng Nai, An Giang, Cà Mau… Những người con trưởng, con cả trong gia đình bị cọp ăn thịt dẫn đến nỗi sợ hãi trong dân gian, không dám gọi con trưởng là con cả vì sợ xui rủi; thậm chí gọi cọp là “Hương Cả cọp” (có thể còn hàm ý mỉa mai bọn Hương chức Hội tề hung dữ như cọp). Giả thuyết này không mấy thuyết phục vì đối tượng bị cọp vồ rất nhiều, không phân biệt con trưởng hay con thứ…

Trong quá trình nghiên cứu văn hoá dân gian ở miền Trung, người viết tìm được chứng cứ khác có thể xác định cách gọi “anh Hai” đã có trước thời Khởi nghĩa Tây Sơn (năm 1771), lúc đó Nguyễn Nhạc (là anh cả trong ba anh em: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) đã được Nhân dân địa phương gọi là “anh Hai Trầu”. Trong cuốn “Lễ hội Việt Nam”, bài Lễ hội Quang Trung, các tác giả Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý cũng xác định: “Tại làng Kiên Mỹ còn di tích Bến Trầu - nơi tương truyền ngày xưa Nguyễn Nhạc thường đưa trầu từ phía thượng nguồn về bán ở vùng An Thái, An Nhơn… cho nên Nguyễn Nhạc còn có tên là anh Hai Trầu”.

Như vậy các giả thuyết liên quan đến triều Nguyễn (từ năm 1802) hay thời Pháp thuộc (từ năm 1858) là không thuyết phục, vì cách gọi “anh Hai” thay cho “anh Cả” đã xuất hiện từ trước năm 1771.

Ngược dòng lịch sử, trở lại thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng cùng với binh sĩ, tuỳ tùng và Nhân dân ở một số địa phương miền Bắc vào khai phá vùng đất phương Nam, có thể giả thuyết cách gọi “anh Hai” xuất phát từ thời kỳ này. Sử sách ghi rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì xác định công cuộc “mang gươm đi mở cõi” là “sinh ly, tử biệt” nên các gia đình phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ, kể cả Nguyễn Hoàng cũng là con trai thứ.

Về sự kiện này, sách “Ðại Việt sử ký toàn thư”, quyển XVI, có chép: “Tháng 10 (Mậu Ngọ, tức năm 1558), Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu, dâng biểu xin sai con thứ của Chiêu Huân Tĩnh công là Ðoan quận công Nguyễn Hoàng đem quân vào trấn thủ xứ Thuận Hoá để phòng giặc phía đông cùng với Trấn quận công ở Quảng Nam cứu viện cho nhau. Mọi việc của xứ này, không cứ lớn hay nhỏ, và các ngạch thuế đều giao cả cho, hằng năm đến kỳ hạn thì thu nộp”.

Sách “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim (1919) cũng ghi: “Ông Nguyễn Kim có hai người con là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng cũng làm tướng lập được nhiều công. Người anh là Nguyễn Uông được phong làm Lang quận công, người em là Nguyễn Hoàng được phong là Thái uý Ðoan quận công. Nhưng vì Trịnh Kiểm sợ họ Nguyễn tranh mất quyền mình, bèn kiếm chuyện mà giết Nguyễn Uông đi. Còn Nguyễn Hoàng cũng sợ Trịnh Kiểm có ý ám hại, chưa biết làm thế nào mới ra Hải Dương hỏi ông Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông ấy bảo rằng “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (nghĩa là một dãy Hoành Sơn (chỗ đèo Ngang, Quảng Bình) kia có thể yên thân được muôn đời).

Nguyễn Hoàng mới nói với chị là bà Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Trịnh Kiểm cho vào trấn phía Nam. Năm Mậu Ngọ (1558) đời vua Anh Tông, Trịnh Kiểm mới tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá. Bấy giờ những người họ hàng ở huyện Tống Sơn cùng những quân lính ở đất Thanh, Nghệ nhiều người đưa cả vợ con theo đi…”.

Nhiều thế hệ cư dân miền Bắc vào Nam khai phá theo chính sách của Nguyễn Hoàng đã ý thức được công cuộc tha hương sẽ khó có ngày quay trở lại. Vì vậy, những người dân Nam tiến này đều là những “anh Hai”, “anh Ba”… Vì cuộc mưu sinh trên vùng đất mới, vì muốn thoát khỏi sự trói buộc của luật lệ phong kiến khắt khe, họ phải ra đi nhưng trong lòng vẫn canh cánh nhớ về quê cha đất tổ.

Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ trong bài thơ “Nhớ Bắc” (viết năm   1940) có những câu thơ diễn tả tâm trạng này:

“Ai đi về Bắc ta theo với

Thăm lại non sông giống Lạc - Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”

Ðể tưởng nhớ quê hương, các thế hệ dân cư miền Nam đã giành vị trí “anh Cả” cho những người còn lại ở đất Bắc, nên những người con trưởng sau này được gọi là “anh Hai”, “chị Hai”, lâu dần thành thói quen, thành phong tục, thành truyền thống đạo lý của dân tộc.

Hiện tượng này có nguyên nhân từ truyền thống Nho học và đạo lý xem trọng chữ Hiếu, người con trai cả có vai trò rất lớn trong gia đình: “quyền huynh thế phụ”, khi cha mẹ mất thì người anh cả có trách nhiệm gánh vác việc gia đình, thờ cúng tổ tiên, nuôi dạy các em nên người… Khi cha mẹ còn sống cũng không được đi xa “Phụ mẫu tại, bất khả viễn du”.

Cũng cần nói thêm rằng, người dân miền Nam đã sáng tạo rất nhiều từ những “giá trị văn hoá” gốc của miền Bắc, việc gánh vác gia đình, phụng dưỡng tổ tiên của cư dân miền Nam không còn là vị trí độc tôn của người con trưởng, mà thường giao người con út. Từ đó có quan niệm “giàu út ăn, nghèo út chịu”. Người con út trở thành trụ cột trong gia đình, lo phụng dưỡng cha mẹ già, thờ cúng tổ tiên; nhiều người thứ út cũng được đặt tên Út, thậm chí còn sáng tạo: Út Tám, Út Chín, Út Mười, Út Thêm, Út Nữa, Út Chót, Út Hết…

Liên quan đến cách xưng hô của người miền Nam còn có cách gọi theo thứ của người đối diện, thể hiện thái độ tôn trọng, tránh gọi tên thật, nhất là đối với người lớn tuổi. Ví dụ, người ta thường gọi: chú Hai, chú Ba, chú Út… hoặc anh Hai, anh Ba, anh Tư… Ðây có lẽ là sáng tạo của người miền Nam do ảnh hưởng văn hoá ứng xử phương Tây trong những năm bị thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cai trị, người phương Tây thường gọi họ trong giao tiếp (ông Nguyễn, ông Trần…) để thể hiện sự tôn trọng, thay vì gọi tên (Nguyễn Văn A, Trần Văn B; ông A, ông B…).

Ngôn ngữ trong đời sống của người miền Nam đã trải qua quá trình lịch sử, giao lưu, tiếp biến văn hoá hàng trăm năm, xét dưới góc độ văn hoá là “đặc sản” của địa phương, thể hiện bản sắc văn hoá vùng miền, góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam thêm phong phú, đa dạng nhưng đậm đà bản sắc dân tộc./.

Huỳnh Thăng

Dịch vụ cứu hộ ắc quy VETC laptop dưới 30 triệu cấu hình cao tại Worklap

Mang Trung thu yêu thương đến trẻ em vùng biển

Trong không khí Trung thu, ngày 19/9, Uỷ ban MTTQ VN xã Khánh Lâm đã kết nối với Nhóm thiện nguyện Hữu Duyên, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình “Đêm Trăng Dạ Phúc”, mang đến một mùa Trung thu ấm áp với nhiều hoạt động thiết thực và đêm hội rước đèn rộn ràng dành cho hơn 800 em nhỏ.

Khánh thành cây cầu đầu tiên của mô hình “Nhịp cầu yêu thương”

“Nhịp cầu yêu thương” là mô hình an sinh xã hội thiết thực do Phòng Cảnh sát giao thông (Công an tỉnh Cà Mau) chủ trì triển khai, nhằm huy động nguồn lực xã hội hoá xây dựng các công trình cầu giao thông nông thôn phục vụ Nhân dân.

Nghĩa tình quê hương gửi đến bà con khó khăn

Ngày 19/9, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 1 (khu vực Cà Mau), Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Cà Mau, phối hợp Ban liên lạc đồng hương Bạc Liêu - Cà Mau tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thăm, tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn Phường Lý Văn Lâm.

Trung thu yêu thương

Ngày 19/9, tại phường Hiệp Thành và xã Khánh Lâm, nhiều chương trình vui tết Trung thu được tổ chức, mang không khí vui tươi và những phần quà ấm áp đến học sinh dân tộc Khmer, có hoàn cảnh khó khăn.

BDU Cà Mau trao học bổng khoảng 6 tỷ đồng cho sinh viên

Sáng 19/9, Phân hiệu Trường Đại học Bình Dương tại Cà Mau long trọng tổ chức Lễ khai giảng năm học 2026-2027 và kỷ niệm 29 năm thành lập Trường Đại học Bình Dương (24/9/1997-24/9/2026).

Xã Vĩnh Hậu hoàn thành 100% chỉ tiêu nhà Đại đoàn kết

Ngày 18/9, xã Vĩnh Hậu tổ chức lễ bàn giao nhà Đại đoàn kết cho các hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở trên địa bàn, hoàn thành 100% chỉ tiêu được giao.

Hơn 10 tỷ đồng đầu tư hệ thống nước uống sạch cho trường học

UBND tỉnh vừa phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư hệ thống nước uống sạch thuộc Đề án tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, tổ chức bán trú đối với cấp học mầm non và phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh. Dự án có tổng mức đầu tư dự kiến hơn 10 tỷ đồng.

Gần 400 người dân Xã Phan Ngọc Hiển được khám mắt miễn phí

Trong 2 ngày (17 và 18/9), Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Phan Ngọc Hiển phối hợp với Bệnh viện Mắt Sài Gòn Cà Mau tổ chức Chương trình khám mắt miễn phí cho gần 400 người dân trên địa bàn xã.

Ý chí vươn lên của những nạn nhân da cam

Dù sinh ra không lành lặn hay mang trong mình thương tật, những nạn nhân chất độc da cam vẫn nỗ lực vươn lên phát triển kinh tế, tự chăm lo cuộc sống, không trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Trao hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hội viên cựu chiến binh khó khăn

Ngày 17/9, Hội Cựu chiến binh tỉnh Cà Mau tổ chức khởi công và trao kinh phí xây dựng nhà Nghĩa tình đồng đội cho 2 hội viên có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn xã Khánh Lâm và xã An Trạch.