Thứ sáu, 15-5-26 21:26:24
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Tại sao người miền Nam gọi anh Cả là “anh Hai”?

Báo Cà Mau Ngôn ngữ là loại hình văn hoá phi vật thể, phản ánh văn hoá vùng, miền rất rõ nét. Cách xưng hô “anh Cả” ở miền Bắc so với “anh Hai” ở miền Nam là điển hình.

Ngôn ngữ là loại hình văn hoá phi vật thể,  phản ánh văn hoá vùng, miền rất rõ nét. Cách xưng hô “anh Cả” ở miền Bắc so với “anh Hai” ở miền Nam là điển hình.

Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người miền Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là “anh Hai”, “chị Hai”? Ðây là một hiện tượng văn hoá có thể lý giải từ phương pháp tiếp cận liên ngành: ngôn ngữ học, khoa học lịch sử, văn hoá dân gian…

Chữ “cả” trong tiếng Việt có nghĩa là lớn, to lớn (cả giận, cả gan, cả vú lấp miệng em, ao sâu nước cả…), còn có nghĩa khác là tất cả, bao gồm (cả lớp, cả nhóm, cả đời…). Người miền Bắc gọi “anh Cả”, “chị Cả” nghĩa là anh lớn, chị lớn, người được sinh ra đầu tiên trong gia đình. Trong khi đó, người miền Nam không gọi “anh Cả”, “chị Cả” mà gọi là “anh Hai”, “chị Hai”. Hiện tượng này đến nay có một số cách hiểu phổ biến như sau:

Cà Mau là địa điểm cuối cùng của hành trình khai phá đất phương Nam.   Ảnh: VŨ TRÂN

Cách hiểu thứ nhất có nguồn gốc từ nguyên tắc “tứ bất” (bốn không) của triều Nguyễn: “bất thiết Tể tướng, bất thủ Trạng nguyên, bất lập Hoàng hậu, bất phong Ðông cung”, nghĩa là các vua triều Nguyễn không đặt chức Tể tướng, trong thi cử không lấy đỗ Trạng nguyên, không lập Hoàng hậu và không phong Ðông cung Thái tử. Trong đó việc không lập Hoàng hậu và Ðông cung Thái tử vì cho rằng vua Gia Long vì tiếc thương người vợ là Tống Thị Lan và con trai cả là Nguyễn Phúc Cảnh (Hoàng tử Cảnh) nên dành vị trí này để tưởng nhớ người đã mất, từ đó trong dân gian không ai dám gọi con lớn là con cả.

Cách hiểu thứ hai cho rằng liên quan đến yếu tố kiêng kỵ, kỵ huý, do trùng với cách gọi “Hương Cả” là một chức vụ đứng đầu ở làng, xã thời Pháp thuộc. Năm 1904, để quản lý các địa phương ở Nam Kỳ, thực dân Pháp cho thành lập Hội đồng Hương chức (Hội đồng xã, còn gọi là Ban Hội tề) gồm 12 chức vụ: Hương Cả, Hương Sư, Hương Chủ, Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương Giáo, Hương Quản, Hương Bộ, Hương Thân, Xã Trưởng, Hương Hào và Chánh Lục Bộ. Trong đó Hương Cả là chức vụ cao nhất. Người dân không dám gọi con trai lớn của mình là “thằng Cả” vì sợ phạm thượng.

Cách hiểu thứ ba từ tâm lý sợ cọp, có rất nhiều câu chuyện kể về việc những lưu dân thế hệ trước bị cọp bắt, cọp vồ ở khắp các vùng đất Nam Bộ như: Ðồng Nai, An Giang, Cà Mau… Những người con trưởng, con cả trong gia đình bị cọp ăn thịt dẫn đến nỗi sợ hãi trong dân gian, không dám gọi con trưởng là con cả vì sợ xui rủi; thậm chí gọi cọp là “Hương Cả cọp” (có thể còn hàm ý mỉa mai bọn Hương chức Hội tề hung dữ như cọp). Giả thuyết này không mấy thuyết phục vì đối tượng bị cọp vồ rất nhiều, không phân biệt con trưởng hay con thứ…

Trong quá trình nghiên cứu văn hoá dân gian ở miền Trung, người viết tìm được chứng cứ khác có thể xác định cách gọi “anh Hai” đã có trước thời Khởi nghĩa Tây Sơn (năm 1771), lúc đó Nguyễn Nhạc (là anh cả trong ba anh em: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) đã được Nhân dân địa phương gọi là “anh Hai Trầu”. Trong cuốn “Lễ hội Việt Nam”, bài Lễ hội Quang Trung, các tác giả Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý cũng xác định: “Tại làng Kiên Mỹ còn di tích Bến Trầu - nơi tương truyền ngày xưa Nguyễn Nhạc thường đưa trầu từ phía thượng nguồn về bán ở vùng An Thái, An Nhơn… cho nên Nguyễn Nhạc còn có tên là anh Hai Trầu”.

Như vậy các giả thuyết liên quan đến triều Nguyễn (từ năm 1802) hay thời Pháp thuộc (từ năm 1858) là không thuyết phục, vì cách gọi “anh Hai” thay cho “anh Cả” đã xuất hiện từ trước năm 1771.

Ngược dòng lịch sử, trở lại thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng cùng với binh sĩ, tuỳ tùng và Nhân dân ở một số địa phương miền Bắc vào khai phá vùng đất phương Nam, có thể giả thuyết cách gọi “anh Hai” xuất phát từ thời kỳ này. Sử sách ghi rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì xác định công cuộc “mang gươm đi mở cõi” là “sinh ly, tử biệt” nên các gia đình phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ, kể cả Nguyễn Hoàng cũng là con trai thứ.

Về sự kiện này, sách “Ðại Việt sử ký toàn thư”, quyển XVI, có chép: “Tháng 10 (Mậu Ngọ, tức năm 1558), Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu, dâng biểu xin sai con thứ của Chiêu Huân Tĩnh công là Ðoan quận công Nguyễn Hoàng đem quân vào trấn thủ xứ Thuận Hoá để phòng giặc phía đông cùng với Trấn quận công ở Quảng Nam cứu viện cho nhau. Mọi việc của xứ này, không cứ lớn hay nhỏ, và các ngạch thuế đều giao cả cho, hằng năm đến kỳ hạn thì thu nộp”.

Sách “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim (1919) cũng ghi: “Ông Nguyễn Kim có hai người con là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng cũng làm tướng lập được nhiều công. Người anh là Nguyễn Uông được phong làm Lang quận công, người em là Nguyễn Hoàng được phong là Thái uý Ðoan quận công. Nhưng vì Trịnh Kiểm sợ họ Nguyễn tranh mất quyền mình, bèn kiếm chuyện mà giết Nguyễn Uông đi. Còn Nguyễn Hoàng cũng sợ Trịnh Kiểm có ý ám hại, chưa biết làm thế nào mới ra Hải Dương hỏi ông Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông ấy bảo rằng “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (nghĩa là một dãy Hoành Sơn (chỗ đèo Ngang, Quảng Bình) kia có thể yên thân được muôn đời).

Nguyễn Hoàng mới nói với chị là bà Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Trịnh Kiểm cho vào trấn phía Nam. Năm Mậu Ngọ (1558) đời vua Anh Tông, Trịnh Kiểm mới tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá. Bấy giờ những người họ hàng ở huyện Tống Sơn cùng những quân lính ở đất Thanh, Nghệ nhiều người đưa cả vợ con theo đi…”.

Nhiều thế hệ cư dân miền Bắc vào Nam khai phá theo chính sách của Nguyễn Hoàng đã ý thức được công cuộc tha hương sẽ khó có ngày quay trở lại. Vì vậy, những người dân Nam tiến này đều là những “anh Hai”, “anh Ba”… Vì cuộc mưu sinh trên vùng đất mới, vì muốn thoát khỏi sự trói buộc của luật lệ phong kiến khắt khe, họ phải ra đi nhưng trong lòng vẫn canh cánh nhớ về quê cha đất tổ.

Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ trong bài thơ “Nhớ Bắc” (viết năm   1940) có những câu thơ diễn tả tâm trạng này:

“Ai đi về Bắc ta theo với

Thăm lại non sông giống Lạc - Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”

Ðể tưởng nhớ quê hương, các thế hệ dân cư miền Nam đã giành vị trí “anh Cả” cho những người còn lại ở đất Bắc, nên những người con trưởng sau này được gọi là “anh Hai”, “chị Hai”, lâu dần thành thói quen, thành phong tục, thành truyền thống đạo lý của dân tộc.

Hiện tượng này có nguyên nhân từ truyền thống Nho học và đạo lý xem trọng chữ Hiếu, người con trai cả có vai trò rất lớn trong gia đình: “quyền huynh thế phụ”, khi cha mẹ mất thì người anh cả có trách nhiệm gánh vác việc gia đình, thờ cúng tổ tiên, nuôi dạy các em nên người… Khi cha mẹ còn sống cũng không được đi xa “Phụ mẫu tại, bất khả viễn du”.

Cũng cần nói thêm rằng, người dân miền Nam đã sáng tạo rất nhiều từ những “giá trị văn hoá” gốc của miền Bắc, việc gánh vác gia đình, phụng dưỡng tổ tiên của cư dân miền Nam không còn là vị trí độc tôn của người con trưởng, mà thường giao người con út. Từ đó có quan niệm “giàu út ăn, nghèo út chịu”. Người con út trở thành trụ cột trong gia đình, lo phụng dưỡng cha mẹ già, thờ cúng tổ tiên; nhiều người thứ út cũng được đặt tên Út, thậm chí còn sáng tạo: Út Tám, Út Chín, Út Mười, Út Thêm, Út Nữa, Út Chót, Út Hết…

Liên quan đến cách xưng hô của người miền Nam còn có cách gọi theo thứ của người đối diện, thể hiện thái độ tôn trọng, tránh gọi tên thật, nhất là đối với người lớn tuổi. Ví dụ, người ta thường gọi: chú Hai, chú Ba, chú Út… hoặc anh Hai, anh Ba, anh Tư… Ðây có lẽ là sáng tạo của người miền Nam do ảnh hưởng văn hoá ứng xử phương Tây trong những năm bị thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cai trị, người phương Tây thường gọi họ trong giao tiếp (ông Nguyễn, ông Trần…) để thể hiện sự tôn trọng, thay vì gọi tên (Nguyễn Văn A, Trần Văn B; ông A, ông B…).

Ngôn ngữ trong đời sống của người miền Nam đã trải qua quá trình lịch sử, giao lưu, tiếp biến văn hoá hàng trăm năm, xét dưới góc độ văn hoá là “đặc sản” của địa phương, thể hiện bản sắc văn hoá vùng miền, góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam thêm phong phú, đa dạng nhưng đậm đà bản sắc dân tộc./.

Huỳnh Thăng

Chung tay xây dựng khu dân cư đoàn kết, ấm no, hạnh phúc

Phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thời gian qua, Uỷ ban MTTQ Việt Nam Phường Lý Văn Lâm đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, hướng mạnh về cơ sở, góp phần chăm lo đời sống Nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự (ANTT) và xây dựng khu dân cư ngày càng văn minh, nghĩa tình. Từ những công trình dân sinh, hoạt động an sinh xã hội đến các mô hình tự quản ở cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau tiếp tục được lan toả sâu rộng trong từng khóm, từng hộ dân, tạo nền tảng xây dựng khu dân cư đoàn kết, ấm no, hạnh phúc.

Mái ấm an cư tạo đà lạc nghiệp

Mùa mưa năm nay, ông Tăng Tấn Cường ở Ấp 9, xã Khánh Bình không còn phải lo lắng vì nhà dột, gió lùa qua mái lá xiêu vẹo như trước đây. Căn nhà ấm áp được hỗ trợ từ chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát trở thành điểm tựa để gia đình ông bắt đầu cuộc sống ổn định hơn.

Lan toả nghĩa tình Công đoàn

Sáng 13/5, Liên đoàn Lao động tỉnh Cà Mau tổ chức thăm, tặng quà cho đoàn viên, người lao động thuộc Công đoàn xã Vĩnh Lợi và Công đoàn phường Bạc Liêu nhân dịp Tháng Công nhân năm 2026.

Ðẩy mạnh truyền thông về an toàn thực phẩm

Ðể bảo vệ sức khoẻ Nhân dân, Ban Chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm (ATTP) tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tăng cường triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tuyên truyền về ATTP, trong đó tập trung tuyên truyền các quy định pháp luật về ATTP của Trung ương và địa phương.

Vì quyền lợi, an toàn cho người lao động

Hưởng ứng Tháng Công nhân năm 2026 với chủ đề “Công nhân Việt Nam: Ðổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”, gắn với Tháng Hành động về an toàn, vệ sinh lao động, các cấp công đoàn tỉnh Cà Mau triển khai nhiều hoạt động thiết thực chăm lo đoàn viên, người lao động (NLÐ).

Thêm 2 nhịp cầu nối bờ vui tại phường Hoà Thành

Từ nay, việc đi lại, giao thương của bà con khóm Tân Hoá A và khóm Bình Thành không còn cảnh cách trở. Chiều 12/5, hai cây cầu giao thông nông thôn vừa xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng đã hiện thực hoá ước mơ về những nhịp cầu bê tông vững chắc của người dân nơi đây.

Khảo sát chuẩn bị đầu tư, nâng cấp 3 trạm y tế vùng ven biển

Qua khảo sát thực tế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Luân nhận định, để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân cũng như phù hợp với tiêu chuẩn mới đối với y tế tuyến cơ sở, việc đầu tư xây dựng, nâng cấp trụ sở các trạm y tế là hết sức cần thiết.

Trao quà cho 90 đoàn viên, người lao động khó khăn

Nằm trong chuỗi hoạt động hưởng ứng Tháng Công nhân và Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2026, ngày 12/5, Chủ tịch Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Cà Mau Lý Công Bắc đến thăm, tặng quà cho đoàn viên, người lao động hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn phường Bạc Liêu và phường Giá Rai.

Trao 100 triệu đồng vốn sinh kế hỗ trợ phụ nữ nghèo

Chiều 11/5, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) tỉnh Cà Mau phối hợp Ban Từ thiện xã hội Phật giáo tỉnh tổ chức lễ trao vốn sinh kế hỗ trợ phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn.

Thăm hỏi, hỗ trợ gia đình nạn nhân bị sét đánh tử vong

Ngày 11/5, đoàn công tác Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau do ông Nguyễn Văn Khởi, Phó Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, làm trưởng đoàn, đến thăm hỏi, động viên và trao hỗ trợ cho gia đình nạn nhân bị sét đánh tử vong tại xã Khánh Lâm.