Để Luật Bình đẳng giới (BĐG) đi vào cuộc sống, trước hết cần hiểu rõ thế nào là BĐG, ý nghĩa và tầm quan trọng của BĐG cũng như các lĩnh vực để cùng thực thi Luật này.
BĐG - VẤN ĐỀ CỦA THỜI ĐẠI
Khoản 3, điều 5 Luật BĐG nêu: BĐG là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Như vậy, BĐG có nghĩa là những ứng xử, những khát vọng và những nhu cầu khác nhau của phụ nữ (PN) và nam giới (NG) đều được cân nhắc, đánh giá và ủng hộ như nhau. BĐG không có nghĩa PN và NG trở thành như nhau, nhưng các quyền, trách nhiệm và các cơ hội của họ sẽ không phụ thuộc vào họ sinh ra là NG hay PN. Theo đó, BĐG bao hàm bình đẳng về quyền, bình đẳng về tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, bình đẳng về sự tham gia và ra quyết định, bình đẳng về thụ hưởng những thành quả và lợi ích.
Hội thi tìm hiểu pháp luật về BĐG do Sở LĐ-TB&XH phối hợp với các ngành liên quan tổ chức. Ảnh: C.T
BĐG là mục tiêu nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới BĐG thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Nói đến BĐG, về cơ bản là nói đến sự bình đẳng về quyền của PN với NG, hay nói cách khác, cốt lõi của vấn đề quyền con người của PN chính là sự bình đẳng về vị thế, cơ hội và các quyền của PN với NG. Chính vì vậy, ở góc độ chung nhất, đấu tranh cho BĐG cũng chính là đấu tranh cho các quyền con người của PN và ngược lại. Ở phạm vi quốc tế, năm 1967, Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên bố về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, sau đó là sự ra đời của Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại PN (CEDAW) vào ngày 18/12/1979. Tuy vậy, tình trạng bất BĐG ở nhiều nơi trên thế giới làm PN trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương vì ít được tiếp cận với các nguồn lực kinh tế và việc làm, các dịch vụ giáo dục, y tế, ít được tham gia trong đời sống chính trị và quản lý xã hội. PN cũng thường chịu các hành vi bạo lực trên cơ sở giới. Do vậy, tăng cường sự bình đẳng giữa NG và PN là vấn đề quan trọng của mọi thời đại, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước và là điều đúng đắn phải làm.
BĐG TRÊN TỪNG LĨNH VỰC
Luật BĐG đề cập đầu tiên là BĐG trên lĩnh vực chính trị. BĐG giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính trị có ý nghĩa lớn lao đối với việc thúc đẩy BĐG trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Việc tăng cường tiếng nói của PN trên chính trường và trong đời sống xã hội có thể làm tăng ảnh hưởng của các chính sách, chương trình và dự án, góp phần giảm tình trạng tham nhũng và tăng cường năng lực quản lý nhà nước. Vì vậy, để tăng cường sự tham gia của PN trong bộ máy lãnh đạo và ra quyết định cần có sự thay đổi thái độ, chuẩn mực và hành vi, cải cách thể chế và có sự hậu thuẫn mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị.
Đề cập đến BĐG trong lĩnh vực kinh tế, Điều 12, Luật BĐG nêu: “Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động. Một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá tình trạng BĐG của một quốc gia là tỷ lệ PN tham gia các hoạt động kinh tế. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở mức cao. Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung và của khu vực doanh nghiệp nói riêng những năm qua đã có sự đóng góp không nhỏ của các doanh nhân nữ. Tuy vậy vẫn còn không ít những bất cập. Do là những người đảm nhận chủ yếu công việc nội trợ nên PN khó có thể được đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực, tiếp cận thông tin, nâng cao khả năng cạnh tranh với tư cách là người lao động, đặc biệt với tư cách là người sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, so với NG, PN đang được đầu tư quá thấp về thời gian để nâng cao trình độ, để học hỏi, giao tiếp và tích lũy kinh nghiệm. Việc tạo ra một khung pháp lý toàn diện về chính sách trợ giúp đối với các doanh nghiệp do PN làm chủ hoặc điều hành như là những biện pháp thúc đẩy BĐG, bao gồm trợ giúp tài chính, mặt bằng sản xuất, đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật, xúc tiến mở rộng thị trường, tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công, trợ giúp phát triển nguồn nhân lực, vườn ươm doanh nghiệp… là vô cùng cần thiết để đạt được BĐG thực chất trong lĩnh vực kinh tế.
Trên lĩnh vực lao động, Điều 13 Luật BĐG nêu: Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh. Để các nội dung này trở thành hiện thực, ngoài thực hiện các quy định hiện hành của pháp luật, cần triển khai đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ vì việc làm của PN và NG phụ thuộc rất lớn vào học vấn và trình độ chuyên môn nghề nghiệp của họ.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, BĐG là nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng, trong lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo, trong tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Nhưng trên thực tế, trở ngại lớn nhất trong việc nâng cao trình độ chuyên môn và nắm bắt cơ hội đào tạo ở nữ chính là việc thực hiện vai trò giới truyền thống, những “thiên chức” trong gia đình.
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, để sẻ chia gánh nặng và hỗ trợ PN vươn lên đón nhận những thời cơ và vận hội mới của đất nước, trước hết cần coi trọng việc nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của người PN trong xã hội và trong phát triển kinh tế tri thức. Cần có chính sách thỏa đáng để huy động sự tham gia của PN vào các lĩnh vực khoa học - công nghệ, tạo điều kiện cần thiết, bình đẳng như NG trong nghiên cứu khoa học…
Ngoài các lĩnh vực trên, BĐG còn có những điều luật nêu những nội dung cụ thể về BĐG trong các lĩnh vực như văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; lĩnh vực y tế; lĩnh vực gia đình.
Nói đến vấn đề BĐG cũng đồng thời đề cập đến quyền con người, nhất là đối với người PN! Quyền con người là những quyền cơ bản và tuyệt đối mà mọi con người đều được hưởng. Rất nhiều quyền con người được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định, trong đó có “quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, quyền được bầu cử và ứng cử, quyền làm việc, quyền tự do kinh doanh, quyền học tập, nghiên cứu khoa học, quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe, quyền bình đẳng ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình, quyền bất khả xâm phạm về thân thể” (điều 53 - 63 và Điều 71 của Hiến pháp 1992). Tuy nhiên, các quyền con người của PN thường bị vi phạm bởi những quy tắc, lề thói hoặc định kiến của xã hội. Vì vậy, đôi khi có một sự miễn cưỡng trong thực hiện quyền bình đẳng của PN và NG trong mọi lĩnh vực của đời sống và trong áp dụng những điều luật hiện hành.
Sẽ rất hữu ích khi mọi công dân, cả PN và NG được tuyên truyền về luật pháp, quy tắc cũng như các quyền con người, đặc biệt quyền bình đẳng ngang nhau để cùng ủng hộ cho những thay đổi hướng tới cùng thụ thưởng đầy đủ lợi ích và thành quả của công cuộc phát triển đất nước.
NHẬT QUỲNH

Truyền hình







Xem thêm bình luận