Thứ bảy, 3-10-26 15:39:48
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM SỰ KIỆN TẬP KẾT RA BẮC (1954-2024)

“Nhắn ai luôn giữ câu nguyền…”

Báo Cà Mau Tôi muốn mượn lời bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương” của Nhạc sĩ Hoàng Hiệp (Đằng Giao cùng viết lời) để kể câu chuyện về những người phụ nữ trong hoàn cảnh đất nước chia cắt sau Hiệp định Giơnevơ mà phận đời của họ gắn liền sự kiện tập kết năm 1954, với sự hy sinh âm thầm và tấm lòng sắt son, chung thuỷ.

“Mái đầu xanh thề mãi đến khi già”(*)

Ông Nguyễn Thành Ða, Khóm 6, phường Tân Thành, TP Cà Mau, mở đầu câu chuyện: “Cả đời tôi không biết kêu tiếng “ba”. Ba ruột đi tập kết khi mình chưa tròn tuổi...; ba vợ thì cũng hy sinh năm 1965”.

Sau phút lắng lòng, ông mang ra cho chúng tôi một bọc nhỏ, trong đó có nhiều mảnh giấy ố vàng, một số mảnh chữ viết vẫn còn khá rõ và đẹp, có cả những mảnh ghi tiếng Pháp và chữ Hán, rồi bảo: “Ngoài những giấy tờ này, ông cụ còn có quyển nhật ký nhỏ, khá dày, ghi đầy đủ quá trình đi ra Bắc, rồi những công việc làm ở miền Bắc, nhưng tiếc là bão số 5 đã làm hư hại...”.

Ông Nguyễn Thành Ða (thứ hai, từ trái sang) rất mừng vì vẫn còn biết mặt ba mình qua hình ảnh.

Ông Nguyễn Thành Ða (thứ hai, từ trái sang) rất mừng vì vẫn còn biết mặt ba mình qua hình ảnh.

Chúng tôi thật cảm động khi nghe ông kể câu chuyện về hai đấng sinh thành.

Ba ông Ða quê Bắc Giang, vào Cà Mau trong đoàn quân Nam tiến, thời kháng chiến chống Pháp. Ở Cà Mau, ba ông đảm nhận công việc dạy học cho cán bộ. Có lúc trường học cất ở gần nhà mẹ ông (ấp Cái Ngay, xã Thanh Tùng, huyện Ðầm Dơi, ngày nay), vậy là ông bà quen biết rồi phải lòng nhau và tiến đến hôn nhân.

Năm 1954, ba ông từ giã gia đình đi tập kết, hẹn 2 năm quay về. Khi ấy, con trai đầu lòng là anh ông Ða 3 tuổi, còn ông Ða mới sinh được 3 tháng. Mẹ ông ở nhà công tác phụ nữ, vừa tần tảo nuôi con, vừa đếm từng ngày từng tháng chồng sẽ trở về.

Chính quyền Mỹ - Diệm không thực hiện Hiệp định Giơnevơ, gây bao đau thương, tang tóc cho miền Nam, 2 năm thành 21 năm dài đằng đẵng... Bao nhiêu người không còn hy vọng sum vầy, hoàn cảnh đẩy đưa, không ít người ra đi và người ở lại tìm cho mình bến đỗ mới... Dẫu vậy, mẹ ông vẫn một mực đợi chờ chồng, dù ngần ấy năm trời không nhận được một bức thư.

“Thi hành Luật 10/59, đêm nào bọn chúng cũng bao vây nhà vì chỉ thấy đàn bà, trẻ con (chúng nghi ngờ đàn ông đi làm cách mạng). Cuối cùng mẹ con tôi phải dọn về ở bên nhà ngoại. Nhà ngoại có dì Hai chết hồi còn nhỏ, mộ chôn ngoài sau, cả nhà nói mộ đó là chồng của mẹ, bọn chúng mới để yên”, ông Ða kể.

Ông Ða còn nhớ, thời đó rất khổ, mẹ ông vừa công tác, vừa phải vất vả làm đủ thứ nghề, kể cả làm mướn, lặn lội đi nhổ bồn bồn làm dưa bán... để kiếm tiền nuôi con. Trong hoàn cảnh ấy, không ít người có thành ý muốn sẻ chia, nhưng bà một mực khước từ.

Rồi cũng đến ngày nước nhà thống nhất. Hoà trong niềm vui chung ấy, bà và các con hân hoan chờ đón ông về. Nhưng chờ mãi mà “bóng chim tăm cá”.

Gần cuối năm 1975, không còn hy vọng, bà xin giấy phép đi đường ra miền Bắc tìm ông. Tuy nhiên, bấy giờ tuyến đường Bắc - Nam đang sửa chữa nên chuyến đi bị hoãn. Qua năm 1976, bà nhận tin sét đánh từ tờ giấy báo tử có tên ông được gửi về. Mọi hy vọng, trông chờ hoàn toàn sụp đổ.

Ngay sau đó, ông Ða (bấy giờ là thầy giáo Trường Ninh Bình) đã lặn lội ra miền Bắc để tìm hiểu nguồn cơn. Ra đó, ông nhận được vali quần áo, giấy tờ ba ông để lại, cùng với các thông tin: Ba ông khi tập kết ra Bắc, làm ở Thư viện Ðại học Bách khoa Hà Nội, sau về Ban Tuyên giáo Trung ương, rồi qua Uỷ ban Văn hoá Ðối ngoại. Tại đây, ông được phân công đi làm đại sứ nước ngoài. Trước khi đi, bác sĩ kiểm tra sức khoẻ và phát hiện ông bệnh tim nặng. Giáo sư Tôn Thất Tùng mổ tim cho ông, ca mổ hoàn thành, nhưng sau đó thì ông không qua khỏi. Ông mất ngày 16/10/1965.

Trong chuyến đi này, ông Ða cũng tìm về quê nội Bắc Giang. Hai bên gặp nhau mừng mừng tủi tủi và ông cũng hiểu thêm về ba mình. “Nội tôi có 7 người con, 6 gái, chỉ duy nhất mình ba tôi là trai. Thấy tình hình chiến tranh không biết khi nào mới kết thúc, những lần ông về thăm nhà, gia đình khuyên ông cưới vợ khác để có con nối dõi tông đường, nhưng ông một mực không nghe. Ông bảo, chờ ngày thống nhất, về Nam sum họp với mẹ con tôi”, ông Ða xúc động kể.

Chân dung bà Phan Kim Ngôn.   (Ảnh gia đình cung cấp)

Năm 2004, thể theo nguyện vọng của mẹ ông “sống chia cắt, chết muốn được gần nhau”, ông Ða đã đưa mẹ cùng ra Bắc bốc hài cốt cha mình mang về quê nhà chôn cất.

Nói thêm về những giấy tờ ba ông để lại, thật nao lòng khi trong đó còn có một bức thư ba ông viết mà chưa kịp gửi mẹ ông. Thư ghi ngày 23/12/1964. Phần đầu thư, ba ông hỏi thăm ông bà nội ngoại, cha mẹ vợ, những anh chị em trong gia đình, tất cả bà con họ hàng từng người một; nhắn vợ đền ơn đáp nghĩa những người đã cưu mang, giúp đỡ gia đình, con cái mình; dặn vợ chăm lo cho con. Ông cũng cho biết, đã gửi cho bà 10 lá thư, chẳng biết có tới không mà không nhận được một dòng hồi đáp. Phần cuối là những tâm tình cùng bà. Xin mạn phép trích nguyên nội dung này: “Em Ba ơi! Chín năm trước đây, mỗi khi nghe tin giặc khủng bố quê ta, anh thương xót đồng bào, đồng thời lo cho em và hai con. Nỗi lo vợ trẻ lọt vào nanh lang sói, anh gởi vào trong bài thơ “Khi về hỏi liễu Chương Ðài”. Ðầu năm nay, cháu Nguyệt (con của hai bác Thái Ðức Hoà) cho hay rằng năm 1959 “cô Ngôn và hai em Cộng, Ða còn sống; hai em rất ngoan và cô Ngôn tham gia cách mạng...”, anh vui mừng, làm hai bài thơ “Tấm khăn thêu” và “Bay theo gió Bắc” tặng em và hai con. Chẳng biết thơ đến nơi chưa?

Anh đau tim nặng, sắp được mổ tim. Sau này nếu em thấy chúng ta không thể gặp nhau được nữa, thì em nên ưng chồng khác, cho khỏi phí xuân xanh. Nhớ chọn người thật lòng thương hai con Ða, Cộng.

Mười xuân cách biệt đôi phương/Tơ lòng Nam Bắc vấn vương muôn trùng...

Chồng yêu quý của em. Nguyễn Văn Chiểu”.

Vậy là không uổng công bà đợi chờ và không phụ lòng ông đặt trọn niềm tin vào “nơi miền xa xôi ấy...”.

Bà Phan Kim Ngôn sinh năm 1932, khi nhận thư chồng, bà 44 tuổi. Trước đã vẹn tình, giờ dù ông có khuyên đi bước nữa bà cũng không màng. Còn ông Nguyễn Văn Chiểu sinh năm 1921, khi mất cũng ở tuổi 44. Xa cách 11 năm, nhưng ông vẫn chung thuỷ với người vợ muôn trùng cách trở không tin tức ở quê nhà.

Năm 2016, bà qua đời. Vậy là ông bà đã mãi nằm cạnh nhau, không có gì chia cắt được.

“Hai ta như sen mùa hạ, cúc mùa thu..."

Nhà thơ Tế Hanh có bài “Vườn xưa” thật xúc động, nói về việc chia cách lứa đôi bởi “ở hai đầu công tác”; cứ người này về, thì người kia lại đi, họ không được gần nhau. Tôi muốn mượn lời thơ kể về một mối tình “như mặt trăng, mặt trời cách trở” dưới đây.

Chân dung bà Huỳnh Thuỵ Nhã. (Ảnh gia đình cung cấp)

Ông Lý Hoàng Lang và bà Huỳnh Thuỵ Nhã (quê xã Phú Thuận, huyện Phú Tân ngày nay), cùng tham gia công tác ở địa phương sau Cách mạng Tháng Tám, quen nhau và thành hôn.

Năm 1952, ông là bộ đội, theo lệnh trên, ông chia tay người vợ trẻ và đứa con thơ chưa đầy tuổi, hành quân lên núi rừng Tây Bắc tham gia Chiến dịch Ðiện Biên Phủ. Sau chiến thắng, ông cùng các đoàn quân tiến về giải phóng Thủ đô Hà Nội rồi công tác nơi này.

Năm 1954, bà Nhã có tên trong danh sách đi tập kết, bấy giờ bà công tác phụ nữ huyện. Dắt theo con trai 3 tuổi, lòng bà vừa luyến lưu, bịn rịn vì phải xa người thân, quê nhà, nhưng cũng chen lẫn nỗi mừng vui sẽ được cùng chồng tái hợp.

“Tuy tiếng cùng ở miền Bắc, nhưng ông bà có được gặp nhau bao nhiêu, vì ba tôi là bộ đội, rất ít ở nhà. Sau đó ông lại đi học bên Trung Quốc, về thì công tác hải quân, tham gia chiến đấu bảo vệ đảo Cồn Cỏ. Nghe nói trận đó hy sinh nhiều lắm, ba tôi còn sống là điều may...”, ông Lý Hoàng Trung, Phường 8, TP Cà Mau, phân trần.

Chiến tranh ngày càng ác liệt, miền Nam chìm trong lửa đạn, tiếng gọi quê nhà thúc giục, năm 1963, một lần nữa “Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau” (thơ Nguyễn Mỹ), ông để lại con dại, vợ hiền nơi xứ lạ quê người, vượt núi, băng rừng trở về Nam chiến đấu.

Bấy giờ ông Trung mới 3 tuổi, anh đầu 12, chị kế được 5. “Mẹ tôi công tác ở Thanh Hoá, từ phụ nữ xã rồi lên huyện, sau làm Liên hiệp Công đoàn tỉnh... Thời kỳ đó miền Bắc vô cùng khó khăn, thử tưởng tượng người phụ nữ một nách ba con ở xứ người, không bà con dòng họ, ở nhờ nhà dân hết nơi này đến nơi khác, môi trường làm việc, phong tục tập quán cũng khác..., phải vừa lo cho con, vừa công tác, phải đối nhân xử thế cho phải phép... thì biết vất vả đến thế nào. Chưa kể, có những lúc bị đàn ông ve vãn, chọc ghẹo, thấy buồn tủi trong lòng mà phải mạnh mẽ, kiên cường...”, ông Trung thấu cảm.

Trong ký ức chắp vá thời tuổi thơ, ông Trung kể lại rất nhiều những thiệt thòi, hờn tủi của anh em mình nơi quê người xứ lạ; từng hình ảnh, sự việc đầy gian khổ, khó khăn mà mẹ mình phải trải. Và nỗi ám ảnh lớn nhất với ông là những năm miền Bắc bị đánh phá ác liệt, mẹ ông phải trực canh. “Nhà máy, xí nghiệp cũng là mục tiêu chúng nhắm vào. Mẹ tôi phải đi trực bảo vệ những nơi này. Có lúc phải gửi con sơ tán hơn 10 cây số, mẹ đi về phía cầu Hàm Rồng, ban đêm đạn lửa đỏ trời... lòng những đứa con luôn phập phồng lo sợ. Có những lúc, khi đi mẹ dặn ông anh, chìa khoá mẹ để chỗ này, tiền chỗ kia, con mở cái đó, thì sẽ lấy được cái đó..., nếu lỡ mẹ không về”, ông Trung bùi ngùi.

“Có ai thấu hiểu nỗi niềm người phụ nữ, con 3 đứa, chồng đi B, mấy năm trời mới được một lá thư, có khi cũng chẳng một dòng tin tức. Nỗi lo cho chồng, lo mình chết bỏ lại con bơ vơ, rồi còn bao nhiêu lo toan, khó khăn khác phải đối mặt... Vậy mà công tác vẫn tốt, con cái chu toàn, không điều tiếng gì, vẫn một lòng chung thuỷ... Càng nghĩ, tôi càng khâm phục mẹ mình!”, ông Trung tự hào.

Cái may mắn là, cha mẹ ông Trung dù nghìn trùng xa cách rồi cũng kết thúc có hậu khi đất nước thanh bình.

Số phận của người phụ nữ luôn gắn liền với vận mệnh đất nước. Trong thời buổi chiến tranh, phận đời người phụ nữ càng nhiều éo le ngang trái. Và ở đó, phẩm chất của họ càng được sáng ngời. Mà nói như ông Trung: “Trải qua hai cuộc kháng chiến, ngoài những tượng đài được dựng lên để ghi tạc những tấm gương kiên cường bất khuất, những mất mát đau thương, như mẹ Thứ, mẹ Suốt..., với tôi, để đi tới vinh quang, còn có một tượng đài vô hình, đó là sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ”.

(*) Thơ Chính Hữu

 

Huyền Anh

 

Lần đầu xem chiếu bóng

Một chiều đầu tháng 10/1966, được tin Ðội chiếu bóng Cà Mau - Ninh Bình thực hiện buổi chiếu đầu tiên ở Vịnh Dừa, cách cơ quan chúng tôi hơn 2 cây số, ai nấy đều háo hức. Bởi, chúng tôi đều sinh ra và lớn lên ở nông thôn, không ai biết chiếu bóng là gì. Còn bởi phim ảnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn của miền Nam, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

Nhớ thương đồng đội

Năm 1978, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Như, ấp Láng Giài, xã Hoà Bình, khi ấy đang độ tuổi đôi mươi, thực hiện nhiệm vụ tại Sư đoàn 4 (Quân khu 9) chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng chiến đấu vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. “Ðồng đội tôi năm đó được 35 người, giữa chiến trường ác liệt, nhiều người đã ngã xuống ngay trên tay tôi. Ðến nay, đồng đội tôi chỉ còn lại 3 người”, bà Như rơm rớm nước mắt.

Lắng nghe lịch sử giữa trùng khơi

Hành trình “Biển đảo quê hương” với chủ đề “Theo dấu chân anh hùng - Tuổi trẻ sắt son niềm tin với Ðảng” của Tuổi trẻ tỉnh Cà Mau vừa qua đưa đoàn viên, thanh niên (ÐVTN) đến với Côn Ðảo (Thành phố Hồ Chí Minh), nơi mỗi phần mộ, mỗi câu chuyện đều gắn với những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

“Buổi phát thanh gởi về Nam”

Tháng 8/1959, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề do Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, bắn giết, bắt tù đày tất thảy những người chúng cho là "Việt cộng". Nghị quyết 15 của Trung ương nhằm chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam còn trong giai đoạn triển khai...

Phát huy khí thế thành đồng Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Tự hào với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" trong sự nghiệp bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ cách đây 81 năm, Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng hôm nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân Cà Mau quyết tâm hoàn thiện hạ tầng chiến lược, vận hành bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.

Những "bông hoa lửa"

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc từng hứng chịu bom đạn, ký ức về những nữ anh hùng dấn thân vì Tổ quốc vẫn còn hiện hữu qua nhiều câu chuyện được truyền lại.

60 năm kiên trung dưới cờ Đảng

6 thập kỷ đứng trong hàng ngũ của Đảng, từng đi qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến ngày non sông thống nhất và hành trình đổi mới của quê hương, đất nước; hôm nay, khi mái đầu đã bạc, các đảng viên lão thành vẫn giữ trọn lời thề với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân.