Thứ tư, 19-8-26 03:51:39
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nhạc Khị - Một đời mở lối, vạn tiếng lưu danh

Báo Cà Mau Nhắc tới cổ nhạc Bạc Liêu, người ta thường nhớ tới Cao Văn Lầu với “Dạ cổ hoài lang”. Nhưng trước khi có Cao Văn Lầu làm nên bản ca bất hủ ấy, đã có người thầy lặng lẽ gây nền, dựng nghiệp, mở ra mạch sáng tác cho cả thế hệ. Người đó là Lê Tài Khí - Nhạc Khị, bậc tiền nhân mà giới nghệ sĩ nhiều đời vẫn kính trọng gọi là Hậu Tổ. Tên tuổi ông hiện ra với vai trò mở lối, truyền nghề và khai sinh cổ nhạc Bạc Liêu.

Một tên tuổi được nhiều người ghi nhận

Cụ Vương Hồng Sển, học giả rất am tường sân khấu và cổ nhạc Nam Bộ, từng viết một câu nghe nặng ký: Nếu kể công đầu đáng làm “Hậu tổ cải lương”, sao lại không kể ông Hai Khị ở Bạc Liêu.

Cố Nhạc sĩ Lê Tài Khí (Nhạc Khị).

Không chỉ ghi nhận công lao, Vương Hồng Sển còn nhắc tới cái tài hiếm có của ông Lê Tài Khí: một mình mà làm dậy lên cả trống, kèn, chụp choã, đờn, như có cả một ban nhạc hoà tấu. Cách viết của cụ Vương cho thấy, trong mắt người am tường nghề xưa, Nhạc Khị là nhân vật đáng kể công đầu trong buổi đầu cổ nhạc - cải lương phương Nam.

Tác giả Huỳnh Minh trong “Bạc Liêu xưa và nay” cũng nhìn Nhạc Khị từ góc độ kính trọng: Nhạc sư Hai Khị tức gọi Nhạc Khị rất mực tài hoa, một mình sử dụng bốn món nhạc khí “đẩu, bạt, kèn, phách” cùng lúc, ai cũng khen phục. Chỉ một chữ “tài hoa” mà Huỳnh Minh dùng thôi cũng đủ thấy trong ký ức văn hoá Bạc Liêu, Nhạc Khị là người có nghề, có tài và có cái thần riêng trong tiếng đờn, tiếng nhạc.

Tác giả Trần Phước Thuận, người dành nhiều công sức khảo cứu cổ nhạc Bạc Liêu, xem Nhạc Khị như “người khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu”, là “cây đòn bẩy cứng cáp” tạo sức bật ban đầu cho cổ nhạc Nam Bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng. Còn theo lời Nghệ sĩ Phùng Há, nếu nói đến hậu tổ cải lương thì “bên nhạc đúng là ông Nhạc Khị, bên cải lương là ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền”. Một lời nói ngắn thôi, nhưng từ người trong nghề, người đứng giữa sân khấu cải lương một thời, đã làm rõ sự kính trọng mà giới nghệ sĩ dành cho Nhạc Khị.

Người xây móng, đắp nền

Tên thật của Nhạc Khị là Lê Tài Khí, bà con trong xóm gọi Hai Khị, còn trong nghề thì quen gọi Nhạc Khị. Ông sinh ra và trưởng thành từ đất Láng Giài, Vĩnh Lợi, Bạc Liêu (nay là Cà Mau); cuộc đời nhiều bệnh tật, mắt không sáng như người thường, nhưng lại có trí nhớ hiếm có và sự nhẫn nại hiếm người bì kịp. Cha truyền cho ông ít vốn nhạc, sau đó ông tự học thêm, tự nghe thêm, tự gọt giũa mình mà nên.

Theo tác giả Trần Phước Thuận, trí nhớ của Nhạc Khị rất lạ: nghe qua một, hai lần là có thể ca lại, đờn lại, rồi còn sửa sang cho bài bản ngọt hơn, gọn hơn. Thành ra, từ một người bất lợi về thân thể, ông vươn lên thành chỗ dựa của cả một lớp người đam mê cổ nhạc.

Ðiều làm cho Nhạc Khị được kính trọng ngoài mấy ngón đờn, mấy bản nhạc, còn có cái lớn hơn là ông biết bồi đắp nền âm nhạc tài tử. Ông lập ban nhạc, đào luyện người trẻ, tạo ra chỗ tụ họp cho những người mê cổ nhạc.

Trần Phước Thuận viết rằng, bề ngoài là ban nhạc đi phục vụ ma chay, lễ lạt để kiếm sống, nhưng thực chất là “lò” đào luyện ca nhạc sĩ Bạc Liêu. Nói mộc mạc là vầy: ông vừa sống bằng nghề, vừa nuôi người bằng nghề.

Cũng theo Trần Phước Thuận, Nhạc Khị còn được nhìn nhận là người có công canh tân, hiệu đính, áp dụng giảng dạy 20 bài bản tổ, rồi từ đó đào tạo nên lớp nghệ sĩ đông đảo cho Bạc Liêu và Nam Bộ. Ở điểm này, qua các tài liệu khảo cứu cho thấy, Nhạc Khị là một trong những người đã làm cho 20 bài bản tổ đi vào đời sống học nghề, đi vào phong trào cổ nhạc Bạc Liêu, thành cái nền để người sau bước lên mà sáng tạo.

Người gợi mở cho Cao Văn Lầu đi tới Dạ cổ hoài lang

Ðiều cần nói cho tới nơi tới chốn nhất là vai trò của Nhạc Khị đối với Cao Văn Lầu. Lâu nay, người ta thường nói “Dạ cổ hoài lang” ra đời từ nỗi riêng của Cao Văn Lầu - chuyện vợ chồng phải xa nhau, nỗi lòng của người đàn ông trong cảnh ngặt nghèo. Ðiều đó đúng, nhưng chưa đủ. Qua các tài liệu khảo cứu, ông Trần Phước Thuận cho biết Nhạc Khị không chỉ dạy học trò biết đàn, biết ca, mà còn dạy sáng tác, biết lấy tiếng đờn câu ca mà nói chuyện đất nước, chuyện con người. Ðể cụ thể hoá cách dạy đó, ông cải biên bài “Nam ai cổ Tô Huệ chức cẩm hồi văn”, rồi rút ra chủ đề “Chinh phụ vọng chinh phu” để hướng dẫn học trò và các thành viên trong ban nhạc sáng tác.

Cố Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (học trò của Nhạc sĩ Lê Tài Khí).

Chỗ này rất quan trọng, bởi hình tượng chinh phụ đâu phải chỉ là chuyện một người đàn bà ngóng chồng. Ðó còn là nỗi ly tan, cái đứt ruột, đoạn trường của thời buổi nước non biến động, chồng xa vợ, con xa cha, gia đình tan tác. Nhạc Khị muốn mượn câu ca tiếng đờn để gợi lại “cái cảnh con xa cha, chồng xa vợ, gia đình ly tán” do thời cuộc gây nên. Nói cách khác, ông đã mở ra cho học trò một con đường: lấy nỗi đau riêng mà chạm tới nỗi đau chung.

Vì vậy, nếu Cao Văn Lầu là người làm cho “Dạ cổ hoài lang” thành bất tử, thì Nhạc Khị chính là người đã gợi cái mạch tâm tình cho tuyệt phẩm đó. Không riêng “Dạ cổ hoài lang”, qua các tài liệu khảo cứu, các nhà nghiên cứu còn đặt bản này bên cạnh “Liêu giang” của Ba Chột, cùng những lời ca như “Chinh phụ thán”, “Sầu chinh phụ” của Trịnh Thiên Tư để cho thấy: tuy mỗi người mỗi vẻ, nhưng cái chung vẫn là hình ảnh người chinh phụ mỏi mắt trông chồng. Nói gọn lại, Nhạc Khị không sáng tác thay học trò, nhưng ông mở sẵn trường cảm xúc, đường dây chủ đề, lối nghĩ về nghệ thuật, để từ đó học trò đi xa hơn. Ðó mới là công của ông thầy lớn.

Một đời người còn lại trong tiếng đờn

Nhạc Khị còn được nhắc với bốn bản nhạc nổi tiếng: “Ngự giá đăng lâu”, “Ái tử kê”, “Minh Hoàng thưởng nguyệt”, “Phò mã giao duyên”, được giới cổ nhạc gọi là Tứ Bửu. Trần Phước Thuận xem đó là những nhạc phẩm thống thiết, đằm sâu nỗi niềm con người trong cảnh nước mất nhà tan. Còn theo Huỳnh Minh, Vương Hồng Sển, Nhạc Khị hiện lên như một người vừa tài hoa, vừa nhiều truân chuyên, nhưng rốt cuộc vẫn để lại cho đời bóng dáng không chìm được.

Hậu bối nói về Nhạc Khị bằng tất cả sự trân trọng: Vương Hồng Sển ghi công; Huỳnh Minh ghi nhận tài hoa; Trần Phước Thuận đặt ông ở vị trí mở đường của cổ nhạc Bạc Liêu; Phùng Há xác nhận vị thế của ông bên nhạc trong sân khấu cải lương. Và tên ông được chính quyền dùng để đặt cho hai con đường, một hiện diện ở phường Bạc Liêu, một ở xã Hoà Bình, tỉnh Cà Mau. Quỹ hỗ trợ, bảo tồn và phát triển nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ cũng mang tên Lê Tài Khí. Chỉ chừng đó thôi cũng đủ thấy: Nhạc Khị là tên tuổi được nhiều lớp người, nhiều góc nhìn khác nhau, cùng nhắc tới bằng sự kính trọng.

Không gian phục dựng mô hình sinh hoạt nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ - Di sản văn hoá phi vật thể tại khu trưng bày Bảo tàng tổng hợp tỉnh Cà Mau khu vực Bạc Liêu.  (Ảnh: Mỹ Linh)      

Bởi vậy, viết về Nhạc Khị hôm nay là để nhớ cho đúng công của người mở lối. Ðể nhớ rằng trước khi có “Dạ cổ hoài lang” làm rung động lòng người, đã có ông thầy biết gợi cái mạch chinh phụ vọng chinh phu, trước khi có lớp nghệ sĩ làm rạng danh đất Bạc Liêu, đã có người lặng lẽ, trì chí gây nền 20 bài bản, bằng đạo dạy nghề, bằng cái tâm với cổ nhạc. Và trước khi cổ nhạc Bạc Liêu thành vùng sáng của phương Nam, đã có cây đờn cắm sâu vô tình quê, nghĩa nước mà người đời gọi bằng hai tiếng rất kính trọng: Nhạc Khị.

Nguyễn Hoàng Lê - Nguyễn Minh Hải 

Hành trình đi tìm cái đẹp

Hơn 20 năm cầm máy, NSNA Nguyễn Xuân Hãn vẫn không thôi say mê bộ môn nghệ thuật của khoảnh khắc, vì nhiếp ảnh mang lại cho anh những chuyến đi khám phá cuộc sống, phút giây tĩnh lặng để ngắm nhìn cái đẹp.

Tiếp đam mê điện ảnh cho người trẻ

Những năm gần đây, khái niệm "công nghiệp văn hoá" không còn là câu chuyện xa lạ. Từ điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn đến nội dung số, mỗi sản phẩm sáng tạo đều có thể trở thành giá trị kinh tế nếu được đầu tư bài bản và phát triển đúng hướng. Ðối với những địa phương còn nhiều tiềm năng như Cà Mau, việc khơi dậy đam mê sáng tạo cho thế hệ trẻ chính là bước đi đầu tiên để biến nguồn lực văn hoá thành động lực phát triển mới.

Cháo ong vò vẽ - Hương vị độc bản

Có những món ăn chỉ nhắc tên đã đủ khơi gợi nét đặc trưng của một vùng đất, một thời tuổi thơ và cả tính cách gan góc của con người nơi ấy - cháo ong vò vẽ là một trong những món như thế.

Giữ gìn di sản, tri ân lịch sử

Cà Mau là vùng đất hội tụ nhiều lớp trầm tích văn hoá, lịch sử, trong đó có nhiều công trình kiến trúc đặc sắc và mang nhiều giá trị tiêu biểu. Một trong những công trình ấy phải kể đến Sắc Tứ Quan Âm Cổ Tự (phường An Xuyên), người dân quen gọi là chùa Phật Tổ. Ngôi cổ tự linh thiêng này còn là chứng nhân của gần 2 thế kỷ hình thành và phát triển của quê hương.

Nghệ sĩ xây dựng thương hiệu trên môi trường số

Giữa dòng chảy mạnh mẽ của chuyển đổi số, chỉ với điện thoại thông minh, tài khoản mạng xã hội và tư duy sáng tạo, nghệ sĩ có thể đưa tiếng hát, câu vọng cổ, điệu múa hay những tác phẩm nghệ thuật vượt qua ranh giới địa lý để đến với hàng triệu người xem. Đối với nghệ sĩ Cà Mau, số hoá không chỉ mở ra cơ hội phát triển thương hiệu cá nhân mà còn trở thành phương thức mới để quảng bá văn hoá, con người và hình ảnh vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc.

Từ xóm, ấp địa đầu cực Nam đến Hội thi toàn quốc của lực lượng bảo vệ ANTT ở cơ sở

Khi Ban Tổ chức xướng tên đội thi tỉnh Cà Mau trong nhóm 4 đơn vị đoạt giải A khu vực phía Nam, cả đoàn ôm chầm lấy nhau trong niềm vui vỡ oà. Đó không chỉ là phần thưởng cho nhiều tháng miệt mài tập luyện của 30 thành viên, mà còn là sự ghi nhận dành cho hàng nghìn cán bộ, thành viên lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) ở cơ sở đang ngày đêm bám địa bàn, giữ bình yên từng xóm, ấp nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc.

Festival tôm Cà Mau lần thứ II năm 2026

“Tôm Cà Mau - Vươn tầm thế giới”

Hoà cùng nhịp thở quê hương

Năm 2018, khi bắt đầu làm quen với những cái bấm máy đầu tiên, chàng trai trẻ Lương Kha (sinh năm 1997, hội viên Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cà Mau) chỉ đơn thuần muốn lưu giữ lại những nét đẹp bình dị xung quanh mình. Ðể rồi từ sở thích ban đầu ấy, hành trình nhiếp ảnh nghiêm túc và bền bỉ được mở ra.

Để lịch sử sống mãi trong trái tim thế hệ trẻ

Chương trình chiếu phim miễn phí do Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương tổ chức dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ đã thu hút đông đảo khán giả, nhất là học sinh, sinh viên. Những bộ phim lịch sử, chiến tranh cách mạng trở thành phương tiện truyền tải sinh động các giá trị truyền thống, góp phần giáo dục lòng yêu nước và khơi dậy niềm tự hào dân tộc.

Góc nhìn thời sự hoà quyện nghệ thuật

Tốt nghiệp Ðại học Mỹ thuật Công nghiệp năm 1982, chuyên ngành Hoạ sĩ, nhưng anh Cấn Văn Dũng lại rẽ lối, trở thành phóng viên ảnh, gắn bó với Báo Công nghiệp Việt Nam từ năm 1996 (sau đổi tên thành Báo Công Thương). Hành trình này cũng đưa anh "bén duyên" với nhiếp ảnh nghệ thuật.