Chủ nhật, 4-10-26 15:01:02
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Khi ký ức bước ra khỏi tủ kính

Báo Cà Mau Một chiếc đĩa than đã 108 năm tuổi. Một cuốn truyện tranh chỉ vừa lòng bàn tay. Những tấm poster nghệ sĩ đã phai màu. Những kịch bản viết tay, vé xem hát, băng đĩa... tất cả tưởng như chỉ thuộc về quá khứ, nhưng khi được đặt cạnh nhau, chúng lại đặt ra câu hỏi rất hiện tại: Làm thế nào để một loại hình nghệ thuật đã đi qua hơn 1 thế kỷ tiếp tục sống trong ký ức và tình yêu của những thế hệ hôm nay?

Không chỉ là những món đồ cũ

Có thể nhìn triển lãm 319 hiện vật cải lương tại Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, Thành phố Hồ Chí Minh như không gian lưu giữ cổ vật. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, có lẽ sẽ bỏ qua giá trị quan trọng nhất của bộ sưu tập. Bởi những chiếc đĩa than, poster, kịch bản, vé xem hát hay hình ảnh nghệ sĩ không tồn tại độc lập. Chúng là những dấu vết vật chất của đời sống sân khấu từng rất sôi động; phía sau mỗi hiện vật là nghệ sĩ, soạn giả, đoàn hát, rạp hát và cả một lớp công chúng từng xem cải lương như một phần không thể thiếu của đời sống tinh thần. Quan trọng hơn, nó giúp phục dựng một phần ký ức văn hoá Nam Bộ bằng những vật chứng cụ thể.

Ðĩa nhựa vọng cổ 45 vòng của các hãng: Hồng Hoa, Sóng Nhạc, Dư Âm, Việt Nam, Việt Hải... do Nhạc sĩ Y Vân hoà âm.

Ðĩa nhựa vọng cổ 45 vòng của các hãng: Hồng Hoa, Sóng Nhạc, Dư Âm, Việt Nam, Việt Hải... do Nhạc sĩ Y Vân hoà âm.

Trong khuôn khổ sự kiện chuyên đề “Nghệ thuật cải lương - Ký ức lịch sử và mã văn hoá dân tộc”, 319 hiện vật lần đầu được công bố tại Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang. Hơn 300 hiện vật có niên đại trải dài từ những năm 1920-1970, cho phép người xem lần theo nhiều lớp phát triển của cải lương qua âm thanh, hình ảnh, văn bản và phương thức quảng bá.

Trong số những hiện vật, đặc biệt nhất có chiếc đĩa than 78 vòng thu âm tuồng “Kim Vân Kiều” của Soạn giả Trương Duy Toản. Chiếc đĩa gắn với sự kiện cô Năm Thoàn diễn tuồng “Kim Vân Kiều” trong đêm khai trương Rạp hát Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho ngày 15/3/1918.

Nếu chiếc đĩa than cho người xem chạm vào thời kỳ đầu của cải lương, thì cuốn truyện tranh “Lương Sơn Bá - Chúc Anh Ðài” lại mở ra một lát cắt thú vị của đời sống văn hoá những năm 1960, do Hoạ sĩ Hoàng Lương thực hiện năm 1965. Cuốn truyện chỉ dày 12 trang và có kích thước vừa lòng bàn tay, nhưng hiện vật này lại gợi ra một vấn đề lớn: cải lương từng không chỉ tồn tại trên sân khấu.

Tuồng cải lương thập niên 80 cùng băng cassette.

Tuồng cải lương thập niên 80 cùng băng cassette.

Một vở diễn có thể được chuyển hoá thành câu chuyện bằng hình ảnh, nhân vật sân khấu có thể tiếp tục sống trong trí tưởng tượng của công chúng ngay cả khi màn nhung đã khép lại. Ðây là một trong những “cái nhất” của bộ sưu tập: truyện tranh tuồng cải lương nhỏ nhất, đồng thời tiêu biểu cho thời kỳ vàng son của cải lương miền Nam giai đoạn 1955-1965.

Có lẽ không gì trực tiếp hơn những tấm poster để hình dung sức hút của cải lương trong quá khứ. Tên tuổi các kịch đoàn và nghệ sĩ từng làm nên những mùa sân khấu sôi động xuất hiện trên những tờ quảng bá đã nhuốm màu thời gian: Thanh Hương - Hùng Minh, Bạch Lan - Thành Ðược, Bạch Tuyết - Hùng Cường, Kim Chung, Kim Chưởng, Thanh Minh - Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Hương Miền Nam... Rồi những tên tuồng như: “Lá ngọc cành vàng”, “Tình yêu thôn giã”, “Vì hiếu phụ tình”, “Lâm Sanh, Xuân Nương”... Với người hôm nay, đó có thể chỉ là những dòng chữ trên giấy cũ, nhưng với lịch sử sân khấu, đây lại là những “dấu chân”.

Pa nô chân dung nghệ sĩ cải lương Công Tài - Tố Loan được thợ vẽ tay Văn Chống vẽ, treo trước Nhà hát Trần Hữu Trang sau năm 1975.

Pa nô chân dung nghệ sĩ cải lương Công Tài - Tố Loan được thợ vẽ tay Văn Chống vẽ, treo trước Nhà hát Trần Hữu Trang sau năm 1975.

Nếu chỉ nghe một câu vọng cổ, người trẻ có thể cảm nhận được giai điệu. Nhưng khi nhìn vào kịch bản, họ có cơ hội đi sâu hơn: cải lương được cấu trúc như thế nào, lời ca được viết ra sao, ngôn ngữ tiếng Việt được sử dụng thế nào để vừa kể chuyện, vừa tạo nhạc tính?

Từ những văn bản ấy, người xem còn có thể nhận diện sự khác nhau giữa kịch bản, tuồng hoặc bài ca và vở diễn. Ðây là điểm khiến bộ sưu tập vượt ra ngoài giá trị của một cuộc triển lãm cổ vật. Các hiện vật có thể trở thành tư liệu nghiên cứu, đồng thời là phương tiện giáo dục trực quan.

Khoảng cách giữa người trẻ và cải lương có thể được thu hẹp

Thách thức lớn nhất của nghệ thuật truyền thống hôm nay là khoảng cách giữa giá trị với cách tiếp nhận của công chúng trẻ. Một thế hệ lớn lên cùng điện thoại thông minh, video ngắn và các nền tảng số sẽ rất khó bị thu hút nếu cải lương chỉ được giới thiệu bằng những lời kêu gọi “giữ gìn truyền thống”. Muốn người trẻ yêu một di sản, trước hết phải giúp họ hiểu tại sao di sản ấy đáng yêu. Ðó chính là điểm đáng chú ý trong cách bộ sưu tập được đưa đến Nhà hát Trần Hữu Trang.

Mục tiêu “cải lương tiếp cận học đường bằng trải nghiệm đa giác quan” đã đưa những giá trị vốn nằm trong sách vở đến gần hơn với học sinh, sinh viên. Các em có thể nhìn thấy đĩa nhạc, poster, hình ảnh nghệ sĩ; đọc kịch bản; quan sát phục trang, hoá trang qua hình ảnh; tìm hiểu cách sân khấu xưa, phân biệt vai thiện - ác, trung - nịnh, văn - võ. Tức là từ “biết về cải lương”, người trẻ được chuyển sang một trạng thái khác: trải nghiệm cải lương.

Kỷ lục gia Huỳnh Minh Hiệp giới thiệu các hiện vật với học sinh tham quan.

Kỷ lục gia Huỳnh Minh Hiệp giới thiệu các hiện vật với học sinh tham quan.

Kỷ lục gia Huỳnh Minh Hiệp, Phó chánh Văn phòng UNESCO nghiên cứu bảo tồn cổ vật Việt Nam, chia sẻ: “Ðây là lần đầu tiên tôi trưng bày bộ sưu tập chuyên đề về cải lương tại Nhà hát Trần Hữu Trang, nhằm giới thiệu đến các bạn trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên về bộ môn nghệ thuật đặc biệt của Nam Bộ qua những tuồng cổ thập niên 40-50, sách báo về cải lương thập niên 60, hình ảnh nghệ sĩ cải lương, tờ rơi quảng cáo của nhiều đoàn ca kịch đã trình diễn tại các rạp hát ở Sài Gòn trước năm 1975. Tôi mong muốn các bạn trẻ yêu thích và gìn giữ những di sản của cha ông để lại để không bị mai một”.

“Sân khấu có thể thay đổi. Khán giả có thể thay đổi. Cách kể chuyện có thể thay đổi. Nhưng khi một thế hệ còn muốn nghe, muốn hiểu và muốn trao lại cho thế hệ sau, thì sân khấu ấy vẫn còn sống”, Kỷ lục gia Huỳnh Minh Hiệp nhấn mạnh.

Cải lương không chết khi màn nhung khép lại. Cải lương chỉ thực sự mất đi khi không còn ai nhớ, không còn ai tìm hiểu và không còn ai muốn tiếp nối.

Lam Khánh

Hội thi Tiếng hát Phát thanh - Truyền hình tỉnh Cà Mau lần thứ I - năm 2026

Thông báo về Hội thi Tiếng hát Phát thanh - Truyền hình tỉnh Cà Mau lần thứ I - năm 2026

Báo và phát thanh, truyền hình Cà Mau phối hợp Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tổ chức Hội thi Tiếng hát phát thanh - truyền hình tỉnh Cà Mau lần thứ I - năm 2026. Báo và phát thanh, truyền hình Cà Mau trân trọng thông báo về việc đăng ký tham dự và thể lệ hội thi.

Thông báo về Cuộc thi “Người đẹp Đất Mũi qua ảnh” lần thứ I, năm 2026

Báo và phát thanh, truyền hình Cà Mau phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tổ chức Cuộc thi “Người đẹp Đất Mũi qua ảnh” lần thứ I, năm 2026. Báo và phát thanh, truyền hình Cà Mau trân trọng thông báo về việc đăng ký tham gia và thể lệ cuộc thi.

"Làm mới" sân khấu truyền thống mùa lễ Sene Dolta

Không chỉ mang đến những điệu múa, câu hát quen thuộc, dịp lễ Sene Dolta năm 2026, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Cà Mau đã nỗ lực làm mới chương trình phục vụ bà con bằng sự kết hợp hài hoà giữa chất liệu truyền thống và hơi thở hiện đại.

Mùa thu miền nhớ

Thời tiết quê tôi 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông không rõ ràng, chỉ rõ 2 mùa mưa, nắng. Bởi thế, nhạc sĩ đã tinh tế đưa vào lời bài hát mà tôi và nhóm bạn nối khố gặp nhau thường nghêu ngao: “Quê em hai mùa mưa nắng; Hai thôn nghèo nối liền bờ đê...”. Tôi cảm nhận mùa thu không qua khung cảnh sắc vàng của lá, của nắng, của hoa, cái nhè nhẹ của gió, trong vắt của bầu trời, hương thơm của đồng nội. Mùa thu đến nhẹ nhàng trong tôi qua lời của mẹ, của chị tảo tần trong xóm nhỏ: gần tết Trung thu rồi, lo cho mâm cỗ cúng trăng tươm tất, mua cho tụi nhỏ lồng đèn.

Trái tim trẻ “say” nghệ thuật

Những năm gần đây, nghệ thuật Cà Mau lần lượt xuất hiện những ngón đờn trẻ đầy triển vọng. Ở lứa tuổi thanh xuân tràn đầy nhiệt huyết cùng với sự nỗ lực khổ luyện, trau dồi không ngừng, tài năng trẻ từng bước nhận được sự ghi nhận của giới chuyên môn và công chúng mộ điệu. Chỉ nói riêng nhạc cụ guitar phím lõm, nếu ở lĩnh vực chuyên nghiệp có Nhạc sĩ Kỳ Anh, hiện đang công tác tại Ðoàn Cải lương Hương Tràm, thì lĩnh vực nghệ thuật quần chúng có tài tử Phi Phàm.

Ghi nhịp sống quê hương

Giữa đời sống hối hả, mỗi người chọn cho mình cách riêng lưu giữ ký ức và cảm xúc. Với NSNA Trương Bá Hưng, chiến sĩ công tác tại Công an tỉnh Cà Mau, nhiếp ảnh là không gian bình yên sau giờ công tác, nơi anh thư thái cùng những khoảnh khắc đời thường được thu nhận qua ống kính.

Tự hào âm vang “Dạ cổ hoài lang”

Cứ đến Rằm tháng Tám hằng năm, giới nghệ sĩ và công chúng yêu đờn ca tài tử, vọng cổ, cải lương lại thành kính hướng về Nhạc sĩ Cao Văn Lầu bằng tất cả sự mến mộ, tri ân. Chính vào đêm Rằm tháng Tám năm xưa, bản “Dạ cổ hoài lang” của người nhạc sĩ tài hoa ấy lần đầu vang lên. Hơn 100 năm gắn bó với đời sống tinh thần của người dân Cà Mau, khúc nhạc lòng bất hủ đó được thế hệ hôm nay tiếp nối, lưu truyền bằng trách nhiệm và niềm tự hào.

Khai mạc Liên hoan Tiếng hát tuổi cao niên tỉnh Cà Mau

Hướng tới kỷ niệm Ngày Quốc tế Người cao tuổi (1/10), tối 22/9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh (phường Tân Thành), Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc Liên hoan Tiếng hát tuổi cao niên tỉnh Cà Mau lần thứ II năm 2026. 

"Trăm năm gấm hoa" nghệ thuật sân khấu Việt Nam

Tối 22/9, tại Đoàn Cải lương Cao Văn Lầu (phường Bạc Liêu), Nhà hát Cao Văn Lầu tổ chức chương trình kỷ niệm Ngày Sân khấu Việt Nam (12/8 âm lịch) và 107 năm Ngày ra đời bản “Dạ cổ hoài lang” (15/8/1919-15/8/2026).