Trước yêu cầu hiện đại công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động viên của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, góp phần bình đẳng công bằng xã hội, Quốc hội đã thông qua Luật Quản lý thuế. Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2013.
Quản lý thuế là công việc liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân. Trong khi đó, nội dung quản lý thuế lại được quy định rải rác ở nhiều luật thuế nên đã gây khó khăn cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế trong việc tuân thủ các quy định về quản lý thuế.

Luật Quản lý thuế gồm 14 chương, 120 điều. Luật gồm phần quy định chung và các phần cụ thể như đăng ký thuế; khai thuế, tính thuế; ấn định thuế; nộp thuế; trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; thủ tục hoàn thuế; thủ tục miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện.
Luật Quản lý thuế quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế để giúp người nộp thuế hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế của mình. Song song với đó là quyền và nghĩa vụ của cơ quan quản lý thuế. Đặc biệt là việc ràng buộc trách nhiệm để cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế làm tốt nhiệm vụ của mình. Có thể kể một số quy định như: Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật thuế; công khai các thủ tục về thuế; giải thích và cung cấp các thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế; công khai mức thuế phải nộp của hộ kinh doanh trên địa bàn xã, phường, thị trấn; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của Luật; thực hiện miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; hoàn thuế cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật; bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của Luật này; giám định việc xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền...
Thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi người nộp thuế phải nắm vững các quy định pháp luật về quản lý thuế. Bên cạnh việc cơ quan quản lý thuế phải tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, cần phải đẩy mạnh xã hội hóa trong việc trợ giúp người nộp thuế, nhất là đối với người nộp thuế là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để có cơ sở pháp lý cho hoạt động này, Điều 20, Luật Quản lý thuế quy định về tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. Theo đó, tổ chức kinh doanh làm thủ tục về thuế là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, thực hiện các thủ tục về thuế theo thỏa thuận với người nộp thuế.
Luật Quản lý thuế cũng quy định các biện pháp nhằm ngăn chặn, xử lý nghiêm minh những người có hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Đây là một trong những biện pháp nghiệp vụ quan trọng của cơ quan quản lý thuế nhằm ngăn chặn tình trạng chây ì, dây dưa trong việc nộp thuế, tăng cường tính tuân thủ trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, đảm bảo thu đủ tiền thuế kịp thời vào ngân sách Nhà nước, góp phần đảm bảo môi trường bình đẳng cho người chấp hành tốt nghĩa vụ về thuế.
K.K

Truyền hình







Xem thêm bình luận