…Tình hình chiến sự khắp nơi vọng về, càng làm cho nắng tháng Tư nóng thêm. Ngày 10/3/1975, ta đánh chiếm Buôn Mê Thuột; ngày 29/3/1975, Ðà Nẵng được giải phóng; 31/3 tới Bình Ðịnh, cơ quan Dân y với mật danh là Mười Dân đang đứng chân ở Vườn Tre, cách ngã ba Cái Ðuốc - kinh Ông Ðơn không xa, ai nấy đều náo nức, cảm thấy mình ở quá xa mặt trận.
Vào nửa tháng 4/1975, có lệnh của Tỉnh uỷ, Bộ Chỉ huy Tiền Phương, Ban Dân y đã cử Y sĩ Tô Quý Ba (Út Bo), Y sĩ Bùi Văn Bình, Y sĩ Ngô Minh Tiến và một số cán bộ để thành lập Ðội phẫu thuật dã chiến. Chỉ trong một ngày hành quân bằng xuồng chèo, được “trang bị” thêm sóng lá được vạt dẹp một đầu để làm dầm bơi mũi, đến xóm Tân Ðức, liên hệ địa phương và đặt trạm phẫu thuật dã chiến trong một căn nhà bỏ trống của dân. Sau khi được dọn dẹp sạch sẽ, nền đất được rải lên một lớp ni lông, một chiếc dù chiến lợi phẩm ở trận Chà Là - Giá Ngựa được căng lên, các dụng cụ được đặt trên chiếc bàn đã qua kì cọ bằng xà phòng rất công phu.
Minh hoạ: Tô Minh Tấn
Mấy ngày liền, chúng tôi đều ở trong tư thế sẵn sàng tiếp nhận thương binh, nhưng vẫn “thất nghiệp”. Tình hình chiến sự diễn ra chóng mặt. Ngày 21/4/1975, cái chốt án ngữ hướng tiến công của ta ở Xuân Lộc bị thất thủ, cùng lúc Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Trong tỉnh, các đồn bót lẻ tẻ đã bị tiêu diệt hoặc bỏ chạy, đặc khu khét tiếng gian ác ở Bình Hưng cũng đã tan rã từ bên trong, tỉnh lỵ An Xuyên bị gần chục tiểu đoàn ta siết vòng vây. Cùng lúc, anh Tô Quý Ba đã được lãnh đạo phân công chi viện cho huyện Châu Thành.
6 giờ, ngày 1/5/1975, có lệnh Ðội phẫu thuật dã chiến hành quân ra dần thị xã, 3 tay chèo gân guốc trên 3 chiếc xuồng, người ngồi trước thì bơi. Khi đến đầu kênh Rạch Rập thì được tin ta đã làm chủ thị xã, các cứ điểm quan trọng của địch đều bị bộ đội ta chiếm giữ. Sung sướng đến dâng trào, trên xuồng, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau, không có thì giờ để bộc lộ cảm xúc, nhà dọc theo hai bên bờ cờ Mặt trận đã phấp phới.
Bỏ xuồng ở dốc cầu Phán Tề, chúng tôi mang vác lỉnh kỉnh đến bệnh viện lúc 8 giờ. Bây giờ nhớ lại, đúng như lời bài hát “Vui sao nước mắt lại trào”. Chúng tôi đang có mặt ở dinh luỹ cuối cùng của kẻ thù, nơi mà cách đây 7 năm trong đợt tấn công Tết Mậu Thân, chúng tôi đã đổ rất nhiều máu. Hơn chục con người, quần áo chỉ đủ lành, chân dép râu, dép lào, đầu đội nón tai bèo, ba lô tư trang lép xẹp. Những người suốt 20 năm chịu đựng biết bao gian khổ, hy sinh, thiếu thốn. Bệnh viện thì đơn sơ nằm ở rừng sâu, những căn nhà lợp lá, vách lá, sàn lót bằng rống đước, nhà này sang nhà kia bằng những cây đước được hạ xuống làm cầu, nước mưa thì chứa bằng những cái bồn ni lông được bao bọc những tấm lá chằm, dùng nước dừa tươi để truyền dịch cứu chữa thương binh, lấy từ nhau của sản phụ bào chế thành viên PILATOP, sản xuất viên ORO-quao, xuyên tâm liên thay thế cho kháng sinh, lấy máu gà tiêm cho bệnh nhân đau nhức, vô trùng lấy soong để hấp.
Quan sát toàn cảnh bệnh viện chúng tôi như choáng ngợp, các khu trại đều đặn như nhau, chỉ trại 9 trại 10 có lầu, phía trước các khu đều có mái che mưa, nắng, cả chỗ cho trực thăng đáp xuống chở thương binh từ các nơi về và số nặng lên bệnh viện Phan Thanh Giãn - Cần Thơ. Cuộc tiếp thu quyền điều hành bệnh viện giữa chúng tôi và Thiếu tá - Bác sĩ Vũ Ðình Nguyên diễn ra thiện chí, chân thành của những người cùng nghề cứu người.
Từ bưng biền ra chợ, từ người chiến thắng trở thành người khiêm tốn học hỏi cách quản lý, điều hành cả một bệnh viện lớn có quy mô hàng trăm giường. Anh Lưu Ðại Ðởm (Năm Lưới), Trưởng ban Dân y, cùng ở trong bệnh viện để tiện theo dõi, chỉ đạo; Bác sĩ Phan Hồng (Hai Lâm) đã được chỉ định làm Giám đốc bệnh viện trong thời kỳ quân quản; anh Lê Trí Thức (Ba Lập), cán bộ cơ yếu Tỉnh uỷ được điều sang làm Chính trị viên bệnh viên. Với hơn một chục con người, trong đó có 3 bác sĩ: Lưu Ðại Ðởm, Phan Hồng và Phan Thanh Long, còn lại là y sĩ, hộ lý trong kháng chiến, cùng với hàng trăm y, bác sĩ, dược sĩ, hộ lý trong guồng máy bệnh viện cũ, chúng tôi đã từng bước điều hành bệnh viện một cách trơn tru, phục vụ tốt cán bộ, bộ đội và Nhân dân.
Có một việc không hề nhỏ, đó là chế độ ăn uống của số cán bộ mới ra tiếp thu. Khi còn ở trong rừng, trong dân, có gạo từ lúa đảm phụ, vào rừng, ra đồng bắt cá, mò cua để cải thiện bữa ăn. Còn ở đây, lương thì chưa có, gia đình chúng tôi đều ở nông thôn. Ban kinh tài phải chạy vạy tiền nong với định mức rất hạn chế. Chúng tôi tổ chức bếp ăn tập thể, ai có gia đình đến thăm thì góp con cá, bó rau. Tự nói với mình, cái khó bây giờ có thấm vào đâu với cái khó đã qua. Và, trong sự đoàn kết, thương yêu nhau để vượt qua cái khó đó lại là sự cảm hoá đối với anh chị em trong guồng máy cũ. Họ tin chúng tôi là người tốt, sống có nghĩa, có tình. Có một lý do tế nhị, Thiếu tá - Bác sĩ Nhật, Ðại uý - Bác sĩ Sang còn ôm cả mùng mền vào ngủ trong bệnh viện.
50 năm, nhớ ngày chiến thắng 30/4, với mệnh lệnh thần tốc, thần tốc hơn nữa... của Ðại tướng Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp. Chúng tôi cũng đã thần tốc từ Vườn Tre, xã Quách Văn Phẩm, huyện Ngọc Hiển đến Tân Ðức, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước và từ Tân Hưng bằng 3 chiếc xuồng be chín thần tốc ra tiếp thu bệnh viện. Chỉ là câu chuyện nhỏ, nhưng nhờ nhiều cái nhỏ, bình dị ấy đã trở thành niềm vui lớn của cả dân tộc. Nhắc lại những ngày ấy, nhớ anh Lưu Ðại Ðởm, Phan Hồng, Chín Ðẻn, Út Ðồng đã là người thiên cổ. Nhắc lại, thấy mình còn nặng nợ với rừng sâu, với những mái nhà dọc theo kênh rạch đã nuôi chứa, che chở chúng tôi, thấy mình sao quá vô tâm không ai nhớ 3 chiếc xuồng be chín ấy đã đưa chúng tôi ra chợ, đã về tay ai và nó hoá kiếp từ hồi nào? Ðành thôi, cuộc đời bao giờ cũng hướng về phía trước!
(Theo lời kể của Bác sĩ Bùi Văn Bình, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Cà Mau)
Nguyễn Thái Thuận