Hai bản án với hai hướng nhận định khác nhau khiến đương sự của vụ kiện, và nhiều người biết rõ vụ tranh chấp, hoài nghi về những gì tòa dựa vào đó để tuyên án. Bởi theo quy định của pháp luật, dù có quan điểm lập trường như thế nào, thì án tuyên phải dựa trên chứng cứ. Và chứng cứ đó, trước hết, phải do pháp luật quy định.
Vụ tranh chấp đất giữa nhà máy xay xát lúa Liên Phong (cũ), phường 8, TP. Bạc Liêu với một số hộ dân chiếm dụng đất phía mặt giáp Quốc lộ 1A đã xảy ra nhiều năm. Nhiều hộ chiếm đất mặt tiền của nhà máy (hướng Quốc lộ 1A), chủ nhà máy Liên Phong (mà đại diện là ông Quách Quang và Âu Thu An) đều khởi kiện đòi đất. Vụ kiện thứ nhất với bà Lương Thị Khôi Nguyên được tòa hai cấp tuyên buộc trả đất lại cho nhà máy. Vụ kiện thứ 2 tranh chấp với bà Lý Thị Nương, cấp sơ thẩm tuyên trả đất nhưng cấp phúc thẩm thì tuyên ngược lại. Vấn đề ở đây là việc tuyên ngược lại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh có những điểm chưa hợp lý.
Trước nhất là những người biết rõ sự việc, là cán bộ Nhà nước thời kỳ quản lý, tiếp quản và sau đó là giao trả nhà máy Liên Phong. Cụ thể như ông Trần Khánh, nguyên quyền Giám đốc Công ty Lương thực Bạc Liêu vào thời điểm giao trả nhà máy Liên Phong đã xác nhận, toàn bộ đất của nhà máy Liên Phong có một mặt tiếp giáp sông (kênh xáng Bạc Liêu), mặt đối diện là tiếp giáp Quốc lộ 1A (nay là đường 23/8), xung quanh còn ao đìa, cỏ dại mọc đầy, không hề có nhà cửa của ai. Hơn nữa, tại Công văn số 283 của Phòng Tài nguyên - Môi trường TP. Bạc Liêu ngày 30/6/2011 trả lời TAND tỉnh đã xác định “diện tích mà bà Lý Ngọc Nương có đăng ký đứng tên trong sổ địa chính là tự kê khai, không có đo đạc thực tế”. Điều hết sức quan trọng, nhưng lại được tòa cấp phúc thẩm bỏ qua, không xem xét tới, chính là diện tích mua bán, chuyển nhượng giữa bà Lý Ngọc Nương và ông Trần Việt Cường (theo giấy tờ sang bán mà bà Nương cung cấp, thì chỉ là diện tích đất 180m2, trong đó có phần căn nhà 34m2). Thế nhưng, khi tự kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì bà Nương lại kê khai 300m2, và khi ra xét xử thì diện tích đất đã vượt lên hơn 380m2. Chẳng biết đất ở đâu mà tự sinh sôi nảy nở một cách khó hiểu như vậy? Đáng ngạc nhiên hơn, tuy là giấy mua bán không có nguồn gốc rõ ràng, chỉ từ người này bán cho người kia, rồi người kia bán cho người nọ, sang bán qua 4 chủ mới tới bà Nương. Nhưng người bán ban đầu là ông Trần Như Khán lại chỉ xác nhận là đã ở trước năm 1975 mà không có bất cứ hồ sơ nguồn gốc đất này từ đâu mà có. Vậy mà tòa cấp phúc thẩm vẫn dựa vào cơ sở này để tuyên án.
Bản án cấp phúc thẩm chủ yếu dựa vào Giấy chứng nhận đăng ký sử dụng đất đai năm 1992 của bà Lý Ngọc Nương đã được UBND phường 8 xác nhận để chấp nhận yêu cầu của bà Nương có phần chưa chặt chẽ. Bởi đây không phải là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ là Giấy đăng ký kê khai (vào thời điểm này là tự kê khai) nên chỉ là căn cứ để xét cấp giấy chứ không có giá trị pháp lý, nhất là khi có tranh chấp thì càng phải làm rõ về nguồn gốc đất.
Mới đây nhất, ông Lê Văn Thuần, Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh, cho biết không thể thi hành bản án và Cục sẽ kháng nghị xem xét lại bản án lên Chánh án TAND Tối cao.
Để mọi việc sáng tỏ, đòi lại được lẽ phải chắc chắn phải còn một chặng đường dài. Tuy nhiên, nhìn nhận dưới góc độ quản lý Nhà nước, rõ ràng cách quản lý đất đai còn nhập nhằng và việc xét xử lại chỉ dựa vào đó chỉ càng khiến cho người dân khốn khổ nếu xảy ra tranh chấp, nhất là khi người chiếm đất cố tình “lập lờ đánh lận con đen”.
KIM TUẤN

Truyền hình







Xem thêm bình luận