Tại Bạc Liêu, ngày 18/9/2013, Cục Bồi thường Nhà nước thuộc Bộ Tư pháp đã tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề “Giải đáp thắc mắc pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”. Đại diện các sở, ngành cấp tỉnh, các cơ quan pháp luật và một số doanh nghiệp trong tỉnh tham dự.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua vào ngày 18/6/2009. Đây là chế định pháp luật quan trọng, nhằm đảm bảo quyền lợi được bồi thường của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp khi bị thiệt hại về vật chất, tinh thần do hành vi trái pháp luật của người thực thi công vụ gây ra.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Tố Hằng (đứng), Phó Cục trưởng Cục Bồi thường Nhà nước tại buổi làm việc với Sở Tư pháp và các ngành tỉnh. |
Buổi tọa đàm “Giải đáp thắc mắc pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” đã cung cấp thêm cho những cơ quan, những người đại diện các cơ quan hành chính, các cơ quan pháp luật cách nhìn và hiểu hơn một số lĩnh vực được quy định trong Luật TNBTCNN. Trong đó, bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước được liệt kê 11 nhóm hành vi mà nếu gây ra thiệt hại thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường. Đó là những hành vi có ảnh hưởng lớn đến các quyền cơ bản của công dân như quyền tự do thân thể, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do sở hữu...
Về bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, Luật TNBTCNN đã liệt kê các trường hợp mà Nhà nước có trách nhiệm bồi thường, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường nếu người bị thiệt hại được coi là bị oan, bất luận công chức có lỗi hay không có lỗi trong việc gây ra tình trạng oan này. Đối với lĩnh vực thi hành án dân sự, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do 8 nhóm hành vi của người thi hành công vụ gây ra (Điều 38). Về lĩnh vực thi hành án hình sự, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do 4 nhóm hành vi của người thi hành công vụ gây ra (Điều 39).
Quan hệ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong Luật TNBTCNN được xác định là quan hệ dân sự đặc thù. Do đó, quyền này chỉ phát sinh khi có văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường. Khi có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại luật này; có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại; có bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định… thì phải thực hiện việc bồi thường đúng theo quy định.
Kim Kim

Truyền hình








Xem thêm bình luận