Nằm cách trung tâm TP. Bạc Liêu chỉ hơn 10km, nhưng cuộc sống của người dân vùng ven biển ở làng cá vẫn còn nhiều khó khăn. Khi cái ăn, cái mặc còn chạy lo từng bữa, thì chuyện được học đến nơi đến chốn quả thật rất xa vời đối với trẻ em nơi đây. Song, thật may mắn khi có một người thầy đã nhiều năm gắn bó để gieo từng con chữ, gieo mầm ước mơ cho những học trò nghèo để hy vọng một ngày nào đó chúng thoát được cái đói, cái nghèo như đời cha mẹ chúng. Người thầy đó có tên là Tăng Sô Đa.
“lớp học đặc biệt” ở làng cá nghèo
Hôm rồi có chuyến công tác ra biển, gặp lại Tăng Sô Đa, tôi mới biết lớp học mà anh gắn bó nhiều năm ấy đã không còn, anh phải về trường chính để dạy lớp 2. Nguyên nhân được thầy hiệu trưởng giải thích là do không đủ học trò để mở lớp.
![]() |
![]() |
| * Bí thư Tỉnh ủy - Võ Văn Dũng thăm, tặng hoa chúc mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 cho thầy giáo Tăng Sô Đa (xã Vĩnh Trạch Đông, TP. Bạc Liêu). Ảnh: M.Đ * Thầy Tăng Sô Đa dạy chữ cho trẻ em làng cá. Ảnh: C.K |
Nhắc lại chuyện xưa, anh Tăng Sô Đa bùi ngùi: “Học trò ở làng cá nghèo lắm! Nghèo cả cái ăn, cái mặc và nghèo cả con chữ! Đời ông bà, cha mẹ chúng con chữ bẻ đôi cũng không biết. Vậy mà đến đời chúng vẫn phải bỏ lớp để đi mò cua, bắt ốc, kiếm cái ăn”.
Cho đến bây giờ, trong tâm trí tôi vẫn còn vẹn nguyên hình ảnh của những em học trò nghèo, lam lũ trong lớp học ấy. Mỗi em một hoàn cảnh khác nhau, nhưng chúng lại có một điểm chung là đều nghèo, đều mong muốn được học để đổi đời. Tôi rất khâm phục các em trong nỗ lực vượt qua số phận.
Nằm chơi vơi ven đê biển Đông, cách địa phận tỉnh Sóc Trăng chỉ vài cây số, điểm trường ấp Biển Đông A (xã Vĩnh Trạch Đông, TP. Bạc Liêu) đã tồn tại hơn 10 năm. Và, trong chừng ấy thời gian, thầy và trò chỉ dạy và học duy nhất một lớp: lớp 1. Lớp có hơn 10 học sinh, đa số là con em người dân tộc Khmer.
Những ánh mắt trong veo, ngây thơ của những cô, cậu học trò nước da đen nhẻm, tóc cháy nắng vàng hoe đang ghép vần từng con chữ làm tôi chạnh lòng. Thật buồn khi so sánh những học sinh này với các em học sinh ở thành thị, ở những trường điểm, nơi các em xúng xính, tinh tươm trong những bộ đồng phục trắng tinh, đắt tiền. Tôi chợt nhận ra, dù không thuộc vùng sâu, vùng xa, nhưng cuộc sống của người dân ven biển vẫn còn lắm khó khăn! Cái đói, cái rét vẫn thường trực, đối diện hàng ngày mỗi khi thức giấc, thì chuyện cho con đi học chữ đến nơi đến chốn sẽ là chuyện khá xa vời.
Trước đây, ở mỗi đầu năm học, anh Tăng Sô Đa phải chạy đôn chạy đáo đến từng nhà vận động học sinh ra lớp. Rồi cũng đích thân anh đi xin từng cái áo, từng quyển tập, cây viết, quyển sách cho các em. Có những ngày thầy giáo đến lớp ngồi đợi hoài mà không thấy bóng dáng đứa học trò nào cả, những lúc ấy thầy biết rằng các em đang theo cha mẹ lặn hụp đâu đó trong rừng phòng hộ hay ngoài bãi biển để kiếm từng con cua, con ốc, lo cái ăn cho no bụng mà quên bẵng chuyện lên lớp.
Kỷ niệm của anh là vậy đó. Anh nhớ lũ học trò nghèo ven biển của mình! Giờ đây, điểm trường bị bỏ hoang, trường chính lại xa, sẽ có nhiều đứa không tìm được con chữ…
Đau đáu một nỗi niềm
Ngồi uống cà phê với tôi nhưng ánh nhìn của anh thật xa xăm. Nơi ấy biển đang cuộn sóng, thủy triều đang lên. Anh thầm thì như đang tự nói với chính mình: “Ở đây, người dân lo cái ăn đã mệt rồi, nói chi đến chuyện lo cho con ăn học! Số lượng học sinh đi học cũng trồi sụt như con nước vậy. Vì ngoài giờ học, các em còn phải theo gia đình đi mò cua, bắt ốc để kiếm sống!”.
Ngày đó, dù khó khăn chồng chất nhưng chất lượng dạy và học của lớp vẫn được duy trì. Mỗi năm có đến gần 80% học sinh của lớp đạt loại từ trung bình trở lên. Đó là điều rất đáng tự hào, đáng trân trọng. Lý giải cho những con số ấy, tôi cho rằng chỉ có cái tâm, sự tận tụy của một người thầy chân chính như Tăng Sô Đa mới bám trụ được với lớp trong ngần ấy năm. Đó còn là sự đồng cảm với cái nghèo, chia sẻ cái khó của học trò, cùng nhau đồng cam cộng khổ vượt qua khó khăn.
Anh kể tôi nghe một câu chuyện rất nhói lòng: Một cậu học trò cũ của anh nhà ở gần trường, có 4 người con đến tuổi đi học nhưng gia đình không cho đến lớp, anh phải nhiều lần đến vận động. Không nể mặt thầy cũ, cậu học trò năm nào lại “phang” thẳng: “Đi học đâu có no bụng”. Song, cuối cùng anh vẫn thuyết phục được gia đình đưa bé ra lớp. Trong khi đó, 3 người chị dù tuổi còn rất nhỏ nhưng vẫn phải theo cha vào rừng, ra biển lao động kiếm sống.
Con nước cứ lên xuống theo từng đợt thủy triều, lũ học trò nghèo cũng đi học “bữa đực bữa cái” theo từng con nước. Chỉ tội cho thầy giáo, cứ thấy em nào vắng vài ba bữa là phải tìm đến tận nhà vận động gia đình đưa con em trở lại lớp học. Vừa làm thầy, vừa làm cha của lũ trẻ làng cá nên anh Tăng Sô Đa hiểu hết lũ trẻ ở đây. Nhiều trẻ em người dân tộc Khmer gặp khó khăn trong việc học chữ vì nghe, nói tiếng Việt không rành. Anh nói vui: “Dạy tiếng Việt cho chúng giống như dạy ngoại ngữ cho học sinh người Kinh vậy”. Những trường hợp này, với nhiệt tình và kinh nghiệm nhiều năm đứng lớp, chỉ một thời gian ngắn là các em hòa nhập với các bạn cùng lớp. Vì thế, lớp học đặc biệt này mỗi năm vẫn hoàn thành việc dạy chữ cho trẻ em người dân tộc Khmer nghèo miền biển.
Lũ học trò nghèo, lam lũ là vậy, còn thầy giáo cũng chẳng khá hơn gì chúng. Ban ngày thầy đi dạy, ban đêm phải đi giữ vuông tôm để kiếm thêm thu nhập. Dù thế, nhưng trong anh vẫn đau đáu một nỗi niềm về tương lai tươi sáng hơn mà anh đã dạy lũ học trò nghèo.
Thay lời kết
Phía trước mặt lớp học là biển, nơi có những cánh quạt gió khổng lồ của công trình điện gió đang miệt mài quay để tạo ra dòng năng lượng phục vụ đời sống con người. Tôi biết, dù không còn được trực tiếp dạy lũ học trò nghèo ở lớp học đặc biệt này nữa, nhưng Tăng Sô Đa vẫn thầm mong những học trò nhỏ của anh sẽ có một tương lai tươi sáng hơn cuộc đời lam lũ của cha mẹ chúng. Ước mơ cháy bỏng trong anh là một ngày nào đó được trở lại, được gắn bó với lũ trẻ vùng biển này. Anh như người đi gieo những con chữ, những mơ ước cho bọn trẻ hồn nhiên, vô tư thích đi mò cua, bắt ốc để kiếm tiền hơn là đến lớp. Tôi cũng thầm mong rồi đây chúng sẽ như dòng điện sáng kia được tận dụng từ gió biển để quay lại phục vụ cho đời.
Châu Khánh

Truyền hình









Xem thêm bình luận