Cuối tháng 6/1974, tốp cán bộ đi học lớp báo chí ở R (Căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, thuộc vùng rừng núi miền Ðông Nam Bộ) xuất phát từ Cà Mau có anh Nguyễn Anh Vũ (Hai Vũ), Hồ Việt Lai, Võ Khắc Ðiệp, Thuý Kiều, Phượng Vũ và tôi. Trong đó, anh Hai Vũ, Thuý Kiều và Phượng Vũ được tổ chức cho đi đường công khai, nên khởi hành sau.
Tôi và Võ Khắc Ðiệp, Hồ Việt Lai đi đường du kích, phải xuất phát trước. Mùa mưa đã bắt đầu, cỏ xanh mơn mởn, những ổ dòng dọc đong đưa trên hàng trâm bầu, dưới tán gừa dọc theo bờ kênh. Ba chúng tôi rời Cơi Nhì, xã Khánh Bình Tây, với hành trang nào là ba lô quần áo, ruột tượng gạo, chiếc ăng gô để nấu ăn, một ít muối tiêu, bột ngọt, bắt đầu cuốc bộ đường dài ước tính phải vài tháng. Với sức trẻ đầy nhiệt huyết, chúng tôi háo hức lên đường để khám phá điều mới lạ mà mình chưa trải qua.
Hai ngày bám trụ ở bên này lộ Cái Sắn để chờ giao liên, mỗi buổi sáng - chiều, chúng tôi xuống kênh tập bơi, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đối mặt và vượt qua hiểm nguy bởi trước đó đã có nhiều lần cán bộ, bộ đội ta qua đây bị địch chốt chặn, bao vây, thậm chí có đồng chí hy sinh. Dân sinh sống trên tuyến lộ này toàn là người Công giáo được Ngô Ðình Diệm lùa vào ở hồi năm 1954, với luận điệu “Chúa đã vào Nam”, bị nhồi nhét những tư tưởng chống Cộng mù quáng; nhà này cách nhà kia khoảng 5-7 m, trước mặt nhà có hàng rào thép gai cao khoảng 1 m; cứ cách 1 cây số là có đồn địch. Trong hoàn cảnh hiểm nguy như thế, chúng tôi đã an toàn vượt qua con lộ: dù mang túi vật dụng trên lưng nặng hơn 10 kg nhưng nhảy qua hàng rào gọn hơ, rồi lại nối nhau bì bõm qua mương lộ. Cũng may, ngay đêm hè trời trong, nhiều sao chiếu sáng rất rõ nên không sợ đứt đuôi.
Qua con lộ an toàn, căng thẳng được giải toả, nhưng chúng tôi còn phải vượt qua cánh đồng dài khoảng 20 km để đến khu Tràm Dưỡng trước khi trời sáng. Ðây là khu rừng tràm thưa; những chỗ có tán khép kín, giúp che mắt được bọn "đầm già", máy bay OV-10 và trực thăng ''cán gáo" của địch, cũng như có thân cây chịu được đầu võng, đã trở thành "túi chứa" quân đi, đón quân đến - chốt quan trọng của tuyến vận tải chiến lược qua biên giới Campuchia, nối mạch với đường Trường Sơn huyền thoại.
Việc nấu ăn trong rừng tuyệt đối phải giấu được khói, nhất là khi sát bên Tràm Dưỡng là sân bay dã chiến Chi Lăng. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, chúng tôi hết sức kỹ lưỡng khi nấu: dùng lon gô, cho gạo và nước vào, treo lủng lẳng trên gốc tràm đã chết, gom mớ chà khô làm lửa, không mấy chốc đã có đủ cơm cho ba người ăn.
Chờ chuyến giao liên đến 2 ngày, chúng tôi rời Tràm Dưỡng, phía trước là kênh xáng Mỹ Lâm, rừng Nam Thái Sơn, kênh Tám Ngàn, kênh Vĩnh Tế, để vượt qua biên giới Campuchia - Việt Nam. Ðường đến binh trạm Túc Mía trên đất Campuchia là đường nhựa, mừng vì hết cảnh sình lầy, gai góc, nhưng chỉ đi vài cây số là bắp chuối chân đã căng cứng.
Binh trạm Túc Mía nằm sát chân cầu, nước dưới con rạch rất trong, tiện lợi cho chúng tôi tắm giặt. Trạm cũng vừa đón số quân từ miền Bắc vào, anh em đều rất trẻ. Qua trò chuyện, càng thương câu truyền miệng “sanh Bắc, tử Nam” rất cảm động của người dân khi Trung đoàn 10 đặt chân đến Cà Mau, nay mai họ sẽ đi xuống miền Tây, nơi con đường mà chúng tôi đi qua.
Tranh: MINH TẤN
Trong khi chờ chuyến đi, chúng tôi tranh thủ đi chợ Lục Sơn, cách Túc Mía vài cây số để bổ sung thêm một số thực phẩm cần thiết như bột ngọt, cá khô, mì gói. Tình hình chính trị nước bạn lúc này đã có dấu hiệu bất ổn, bọn phản động manh nha làm khó dễ ta, nên các trạm trên đất Campuchia cũng nhắc nhở ta cảnh giác, đề phòng bất trắc.
Khoảng hơn 5 giờ chiều, chúng tôi cùng một số người nữa, cả thảy chừng hai chục, nhảy thốc lên chiếc xe Zin quân sự đang đỗ trước binh trạm. Thùng xe trở nên chật chội, vì ngoài người ra còn có ba lô, ruột tượng, súng ống. Trạm qua Sông Hậu đã cho chúng tôi một chiều thư thả, được đi dọc theo xóm ven sông, biết được kiểu nhà sàn đặc biệt của đồng bào Khmer với phần trên người ở, dưới dành cho đàn bò. Hai bên đường rất nhiều cây xanh tán lá sum suê. Có lẽ, người dân ở đây đã quen với cảnh từng đoàn người xa lạ đi trên xóm làng mình nên tỏ ra rất thân thiện.
Ðêm đi đò máy trên Sông Tiền một quãng khá xa. Ðiểm dừng chân để chờ sáng mai đi tiếp là ở vạt rừng ven sông. Vốn quen với tiếng ễnh ương đồng ruộng quê nhà, vậy mà đêm nay chúng tôi như choáng ngợp với "bản đồng ca" đó. Nằm trên võng, ngước nhìn những vì sao qua kẽ lá, tôi cảm nhận được niềm vui, sự thư thái, chợt thấy gian khổ chỉ là thử thách nhỏ.
Tiếp tục cuộc hành trình, chúng tôi sáng nấu cơm ăn rồi đi, dọc đường thấy đói thì lục cơm nguội ăn. Phần nhiều là đi qua những con đường dân cư thưa thớt, xa xa có điểm chùa nắm dưới cụm cây sum suê. Có đoạn chúng tôi còn dùng bịch bột ngọt đổi được con gà tơ để nấu ăn, bồi dưỡng. Ðã là mùa hè, nắng nhiều hơn mưa nên anh em ai nấy da ngâm đen.
Chừng nào chưa tới miền Ðông, chúng tôi cứ đi, có trạm phải đợi một, hai ngày để chờ kết nối. Một ngày đến trạm cuối cùng bên đất Campuchia để trở về đất mẹ, chúng tôi rạo rực, không chỉ vì đường về trường đã rất gần, mà còn vì được đặt chân lên mảnh đất gian lao mà anh dũng - thủ đô của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, nơi có con suối Lò Gò trong xanh, có cánh rừng dầu, bằng lăng trăm tuổi, có những trảng tranh và tiếng gà rừng gáy trong đêm. Ði qua quãng đường dài trên đất bạn Campuchia, đích đến đã cận kề; tính từ khi xuất phát, tổng cộng 28 ngày đêm. Khi người dẫn đường bảo đoạn này là biên giới Việt Nam - Campuchia, cảm xúc trong tôi vỡ oà vì về với Tổ quốc mình.
Phía trước là sân bay dã chiến Thiện Ngôn, đội quân xâm lược thất bại đã kéo nhau về nước, nơi đây chỉ còn trơ lại những tấm vỉ sắt trải dài vốn trước đó là đường băng cho máy bay. Tổ quốc thân yêu của chúng tôi hằn sâu vết tích chiến tranh, dù vậy chúng tôi vẫn nhìn nhau cười rạng rỡ: Miền Ðông ơi, chúng tôi đã đến!
Nguyễn Thái Thuận

Truyền hình



Xem thêm bình luận