Thứ bảy, 3-10-26 13:45:38
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nghĩ về ba bản tuyên ngôn

Báo Cà Mau Quá trình phát triển, hình thành Nhà nước, lịch sử nhân loại ghi nhận không phải dân tộc nào sau khi đuổi được quân xâm lược cũng ra tuyên ngôn độc lập. Cho đến nay, thế giới ghi nhận có tổng số 195 quốc gia, trong đó chỉ có 75 quốc gia có bản tuyên ngôn độc lập; vậy mà Việt Nam có tới 3 lần ra tuyên ngôn độc lập: "Nam quốc sơn hà" (1077), "Bình Ngô đại cáo" (1428) và Tuyên ngôn Ðộc lập (1945).

Bước vào thế kỷ XXI, 195 quốc gia trên thế giới đang hoà chung với dòng chảy lịch sử nhân loại. Các quốc gia, dân tộc dù lớn hay nhỏ, đều là bộ phận không thể tách rời của lịch sử thế giới. Song lịch sử, truyền thống, bản sắc mỗi quốc gia, dân tộc không thể hoà tan trong thế giới muôn màu.

Theo GS-NGND Nguyễn Ngọc Lanh, sớm nhất trong số 75 bản tuyên ngôn độc lập trên thế giới là bản của Scotland, khi nước này thoát khỏi sự thống trị của Anh vào năm 1320.

Song, theo tôi nghĩ, bài thơ "Nam quốc sơn hà" cần được ghi nhận là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới, vì nó xuất hiện vào năm 1077, khi nước ta đánh tan quân xâm lược nhà Tống, trước bản tuyên ngôn độc lập của Scotland 243 năm.

Lịch sử và dân gian đều ghi nhận, với lời thơ đanh thép, "Nam quốc sơn hà", chính thức tuyên bố với phong kiến phương Bắc: Nam quốc là nước độc lập, ngang hàng với quốc gia phong kiến phương Bắc. Nếu xâm phạm bờ cõi nước Nam, giặc Bắc sẽ thua tan tành.

Sử sách ghi rằng, năm 1076, nhà Tống xua 100.000 quân, 10.000 ngựa và 200.000 dân phu tiến đánh Ðại Việt. Chính trong trận này, tại phòng tuyến sông Như Nguyệt, khi quân Tống sa vào trận địa của Lý Thường Kiệt, bị cắt hoàn toàn chi viện. Lương thảo thiếu thốn, quân Tống mỏi mệt, ốm yếu... thêm vào đó, quân Ðại Việt liên tục tập kích, khiến quan quân nhà Tống hãi hùng đến tột cùng. Ðêm đêm, Lý Thường Kiệt cho người tâm phúc ngâm bài thơ từ đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Lời thơ trầm bổng, uy lực như "thơ thần"; được phát ra từ hồn thiêng sông núi, khiến quân Tống càng kinh hồn, bạt vía: "Sông núi nước Nam, vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời".

Biết được quân Tống đã ở vào thế khốn cùng, để tránh hoạ binh đao khổ dân hai nước, Lý Thường Kiệt sai người đi nghị hoà. Chỉ huy quân Tống là Quách Quỳ như người chết đuối vớ được cọc, vội vã chấp nhận giảng hoà, rút tàn quân về nước vào tháng 3/1077 mà còn tim đập chân run, quỳ xuống tâu với vua Tống: "Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào"(*).

Hơn 300 năm sau, vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết "Bình Ngô đại cáo" để tuyên bố với toàn dân kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Ðại Việt.

Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 150.000 viện binh của giặc Minh, tướng giặc Vương Thông buộc phải giảng hoà, chấp nhận rút quân về nước. Cuộc kháng chiến thần thánh của Nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt 20 năm thảm khốc dưới ách đô hộ của giặc Minh, mở ra kỷ nguyên hoà bình lâu dài cho dân tộc.

"Bình Ngô đại cáo" được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, sau "thơ thần", xứng đáng là áng "thiên cổ hùng văn" trong lịch sử văn chương nước nhà. Toàn bộ nội dung "Bình Ngô đại cáo" được triển khai trên cơ sở tư tưởng nhân nghĩa và chân lý về chủ quyền độc lập của nước Ðại Việt.

Nguyễn Trãi mở đầu bài cáo bằng đạo lý nhân nghĩa được xây dựng trên nền tảng là tư tưởng thân dân: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Theo ông, yên dân trước hết là phải trừ bạo để cho dân được sống yên lành, hạnh phúc trong đất nước độc lập, hoà bình.

Năm 1945, sau 517 năm, tính từ bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam - "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi, chiều ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Ðình - Hà Nội, Bác Hồ trịnh trọng công bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới bản Tuyên ngôn Ðộc lập bất hủ.

Tranh: LÝ KIỀU LOAN

Bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Bác đề cập đến giá trị nhân văn cao cả được Bác tiếp thu từ Tuyên ngôn Ðộc lập của nước Pháp và nước Mỹ, điều mà toàn nhân loại sẽ mãi mãi theo đuổi. Ðó là con người phải được sống, được tự do, được hạnh phúc: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc...".

Quan niệm cũ trước đây là tạo hoá sinh ra muôn loài, trong đó con người là chúa tể. Ý này, nay có thể diễn tả khác đi cho phù hợp với trình độ khoa học hiện tại. Nhưng quan niệm mới nhất, cách mạng nhất là mọi người được tạo hoá ban cho như nhau những quyền tất yếu, không thể phủ nhận, không thể xâm phạm, không thể chuyển nhượng!

Ðã là quyền tất yếu, không thể phủ nhận, không thể xâm phạm, không thể chuyển nhượng thì không cần bàn cãi, không ai được phép làm người khác hiểu sai và không ai được phép lấy bất cứ tư cách gì để ban phát hay tước đoạt quyền vốn có của người khác. Như vậy, bất cứ thế lực nào, từ đâu, nếu vi phạm các quyền đương nhiên nói trên, đều bị coi là phi nghĩa, là thù địch.

Cùng với ngày 2/9/1945, bản Tuyên ngôn Ðộc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào là mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn luôn đoàn kết, đồng tâm nhất trí, khẳng định với tư cách là quốc gia, dân tộc với lòng tự tôn, tự hào dân tộc chính đáng. Lời tuyên bố độc lập đó trở thành giá trị tinh thần, làm nên sức mạnh truyền thống của các thế hệ người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai./,

Trần Lượng


(*) Theo Bách khoa toàn thư mở, viết về Lý Thường Kiệt.

 

Lần đầu xem chiếu bóng

Một chiều đầu tháng 10/1966, được tin Ðội chiếu bóng Cà Mau - Ninh Bình thực hiện buổi chiếu đầu tiên ở Vịnh Dừa, cách cơ quan chúng tôi hơn 2 cây số, ai nấy đều háo hức. Bởi, chúng tôi đều sinh ra và lớn lên ở nông thôn, không ai biết chiếu bóng là gì. Còn bởi phim ảnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn của miền Nam, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

Nhớ thương đồng đội

Năm 1978, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Như, ấp Láng Giài, xã Hoà Bình, khi ấy đang độ tuổi đôi mươi, thực hiện nhiệm vụ tại Sư đoàn 4 (Quân khu 9) chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng chiến đấu vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. “Ðồng đội tôi năm đó được 35 người, giữa chiến trường ác liệt, nhiều người đã ngã xuống ngay trên tay tôi. Ðến nay, đồng đội tôi chỉ còn lại 3 người”, bà Như rơm rớm nước mắt.

Lắng nghe lịch sử giữa trùng khơi

Hành trình “Biển đảo quê hương” với chủ đề “Theo dấu chân anh hùng - Tuổi trẻ sắt son niềm tin với Ðảng” của Tuổi trẻ tỉnh Cà Mau vừa qua đưa đoàn viên, thanh niên (ÐVTN) đến với Côn Ðảo (Thành phố Hồ Chí Minh), nơi mỗi phần mộ, mỗi câu chuyện đều gắn với những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

“Buổi phát thanh gởi về Nam”

Tháng 8/1959, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề do Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, bắn giết, bắt tù đày tất thảy những người chúng cho là "Việt cộng". Nghị quyết 15 của Trung ương nhằm chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam còn trong giai đoạn triển khai...

Phát huy khí thế thành đồng Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Tự hào với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" trong sự nghiệp bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ cách đây 81 năm, Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng hôm nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân Cà Mau quyết tâm hoàn thiện hạ tầng chiến lược, vận hành bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.

Những "bông hoa lửa"

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc từng hứng chịu bom đạn, ký ức về những nữ anh hùng dấn thân vì Tổ quốc vẫn còn hiện hữu qua nhiều câu chuyện được truyền lại.

60 năm kiên trung dưới cờ Đảng

6 thập kỷ đứng trong hàng ngũ của Đảng, từng đi qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến ngày non sông thống nhất và hành trình đổi mới của quê hương, đất nước; hôm nay, khi mái đầu đã bạc, các đảng viên lão thành vẫn giữ trọn lời thề với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân.