Thứ ba, 18-8-26 21:36:25
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nghĩ về ba bản tuyên ngôn

Báo Cà Mau Quá trình phát triển, hình thành Nhà nước, lịch sử nhân loại ghi nhận không phải dân tộc nào sau khi đuổi được quân xâm lược cũng ra tuyên ngôn độc lập. Cho đến nay, thế giới ghi nhận có tổng số 195 quốc gia, trong đó chỉ có 75 quốc gia có bản tuyên ngôn độc lập; vậy mà Việt Nam có tới 3 lần ra tuyên ngôn độc lập: "Nam quốc sơn hà" (1077), "Bình Ngô đại cáo" (1428) và Tuyên ngôn Ðộc lập (1945).

Bước vào thế kỷ XXI, 195 quốc gia trên thế giới đang hoà chung với dòng chảy lịch sử nhân loại. Các quốc gia, dân tộc dù lớn hay nhỏ, đều là bộ phận không thể tách rời của lịch sử thế giới. Song lịch sử, truyền thống, bản sắc mỗi quốc gia, dân tộc không thể hoà tan trong thế giới muôn màu.

Theo GS-NGND Nguyễn Ngọc Lanh, sớm nhất trong số 75 bản tuyên ngôn độc lập trên thế giới là bản của Scotland, khi nước này thoát khỏi sự thống trị của Anh vào năm 1320.

Song, theo tôi nghĩ, bài thơ "Nam quốc sơn hà" cần được ghi nhận là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới, vì nó xuất hiện vào năm 1077, khi nước ta đánh tan quân xâm lược nhà Tống, trước bản tuyên ngôn độc lập của Scotland 243 năm.

Lịch sử và dân gian đều ghi nhận, với lời thơ đanh thép, "Nam quốc sơn hà", chính thức tuyên bố với phong kiến phương Bắc: Nam quốc là nước độc lập, ngang hàng với quốc gia phong kiến phương Bắc. Nếu xâm phạm bờ cõi nước Nam, giặc Bắc sẽ thua tan tành.

Sử sách ghi rằng, năm 1076, nhà Tống xua 100.000 quân, 10.000 ngựa và 200.000 dân phu tiến đánh Ðại Việt. Chính trong trận này, tại phòng tuyến sông Như Nguyệt, khi quân Tống sa vào trận địa của Lý Thường Kiệt, bị cắt hoàn toàn chi viện. Lương thảo thiếu thốn, quân Tống mỏi mệt, ốm yếu... thêm vào đó, quân Ðại Việt liên tục tập kích, khiến quan quân nhà Tống hãi hùng đến tột cùng. Ðêm đêm, Lý Thường Kiệt cho người tâm phúc ngâm bài thơ từ đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Lời thơ trầm bổng, uy lực như "thơ thần"; được phát ra từ hồn thiêng sông núi, khiến quân Tống càng kinh hồn, bạt vía: "Sông núi nước Nam, vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời".

Biết được quân Tống đã ở vào thế khốn cùng, để tránh hoạ binh đao khổ dân hai nước, Lý Thường Kiệt sai người đi nghị hoà. Chỉ huy quân Tống là Quách Quỳ như người chết đuối vớ được cọc, vội vã chấp nhận giảng hoà, rút tàn quân về nước vào tháng 3/1077 mà còn tim đập chân run, quỳ xuống tâu với vua Tống: "Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào"(*).

Hơn 300 năm sau, vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết "Bình Ngô đại cáo" để tuyên bố với toàn dân kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Ðại Việt.

Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 150.000 viện binh của giặc Minh, tướng giặc Vương Thông buộc phải giảng hoà, chấp nhận rút quân về nước. Cuộc kháng chiến thần thánh của Nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt 20 năm thảm khốc dưới ách đô hộ của giặc Minh, mở ra kỷ nguyên hoà bình lâu dài cho dân tộc.

"Bình Ngô đại cáo" được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, sau "thơ thần", xứng đáng là áng "thiên cổ hùng văn" trong lịch sử văn chương nước nhà. Toàn bộ nội dung "Bình Ngô đại cáo" được triển khai trên cơ sở tư tưởng nhân nghĩa và chân lý về chủ quyền độc lập của nước Ðại Việt.

Nguyễn Trãi mở đầu bài cáo bằng đạo lý nhân nghĩa được xây dựng trên nền tảng là tư tưởng thân dân: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Theo ông, yên dân trước hết là phải trừ bạo để cho dân được sống yên lành, hạnh phúc trong đất nước độc lập, hoà bình.

Năm 1945, sau 517 năm, tính từ bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam - "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi, chiều ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Ðình - Hà Nội, Bác Hồ trịnh trọng công bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới bản Tuyên ngôn Ðộc lập bất hủ.

Tranh: LÝ KIỀU LOAN

Bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Bác đề cập đến giá trị nhân văn cao cả được Bác tiếp thu từ Tuyên ngôn Ðộc lập của nước Pháp và nước Mỹ, điều mà toàn nhân loại sẽ mãi mãi theo đuổi. Ðó là con người phải được sống, được tự do, được hạnh phúc: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc...".

Quan niệm cũ trước đây là tạo hoá sinh ra muôn loài, trong đó con người là chúa tể. Ý này, nay có thể diễn tả khác đi cho phù hợp với trình độ khoa học hiện tại. Nhưng quan niệm mới nhất, cách mạng nhất là mọi người được tạo hoá ban cho như nhau những quyền tất yếu, không thể phủ nhận, không thể xâm phạm, không thể chuyển nhượng!

Ðã là quyền tất yếu, không thể phủ nhận, không thể xâm phạm, không thể chuyển nhượng thì không cần bàn cãi, không ai được phép làm người khác hiểu sai và không ai được phép lấy bất cứ tư cách gì để ban phát hay tước đoạt quyền vốn có của người khác. Như vậy, bất cứ thế lực nào, từ đâu, nếu vi phạm các quyền đương nhiên nói trên, đều bị coi là phi nghĩa, là thù địch.

Cùng với ngày 2/9/1945, bản Tuyên ngôn Ðộc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào là mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn luôn đoàn kết, đồng tâm nhất trí, khẳng định với tư cách là quốc gia, dân tộc với lòng tự tôn, tự hào dân tộc chính đáng. Lời tuyên bố độc lập đó trở thành giá trị tinh thần, làm nên sức mạnh truyền thống của các thế hệ người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai./,

Trần Lượng


(*) Theo Bách khoa toàn thư mở, viết về Lý Thường Kiệt.

 

Ký ức những ngày tháng Tám

Hơn 8 thập kỷ đã trôi qua kể từ mùa thu lịch sử năm 1945, những người từng trực tiếp tham gia Cách mạng Tháng Tám nay phần lớn đã ở tuổi xưa nay hiếm. Ký ức có thể phai theo năm tháng, nhưng với ông Trần Quang Thiều, cán bộ tiền khởi nghĩa đang sinh sống tại phường Bạc Liêu, khí thế những ngày tháng sục sôi của mùa thu năm ấy vẫn hiện lên rõ nét qua từng câu chuyện.

Bảy Háp - Dòng sông huyền thoại

Từ kênh xáng Ðội Cường kết nối với sông Gành Hào, cùng những nhánh rẽ, dòng Bảy Háp (hay còn có tên gọi là Bảy Hạp) chở nặng những hạt phù sa từ bờ Ðông sang bồi đắp bờ Tây, dựng lên những bãi bồi, gây rừng ngập mặn, cho đất thêm xanh, cho rừng lấn biển.

Ký ức “địa chỉ đỏ”

Từng công tác ở Văn phòng Tỉnh uỷ thời kháng chiến những năm 1960, tôi vinh dự được làm nhân chứng tháp tùng cùng Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lê Minh Sơn và một số cán bộ về lại Rẫy Mới - kênh Tư Mầu, phía sau sông Mỹ Bình để tìm nhà ông Lê Phương Hồng, nguyên cán bộ tôn giáo vận tỉnh trong thời chống Mỹ. Ðây là chuyến khảo sát địa chỉ đỏ cuối cùng ở xã Phong Lạc và Phong Ðiền (cũ).

Vẹn trọn đạo lý, vững bước tương lai

Những ngày tháng Bảy, mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc như lắng lại trong không khí thiêng liêng của dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; dòng chảy tri ân đang cuộn trào trên khắp quê hương Cà Mau, kết nối lịch sử hào hùng với khát vọng vươn mình của hôm nay.

Sức sống mới trên Đôn Bơ - Cựa Gà

Vùng quê cách mạng Đôn Bơ - Cựa Gà (ấp Thạnh Hưng 2, xã Vĩnh Mỹ) hôm nay đổi thay, khởi sắc từng ngày. Những dấu tích chiến tranh được gìn giữ, giáo dục truyến thống; những chính sách đền ơn đáp nghĩa được triển khai thiết thực, góp phần để vùng đất từng chịu nhiều mất mát trong chiến tranh vươn lên trong nhịp sống mới.

Nối dài mạch nguồn tri ân

Tháng Bảy về, khắp các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cà Mau lại rộn ràng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Mỗi món quà trao đi, mỗi lời thăm hỏi chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối mạch nguồn tri ân sâu sắc công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc.

Xây tượng nữ anh hùng Hồ Thị Kỷ: Bông sen lửa sáng mãi trên đất Cà Mau

Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Hồ Thị Kỷ (1949-1970) sinh ra tại ấp Cây Khô, xã Tân Lợi (nay là Xã Hồ Thị Kỷ). Hoạt động trong Ðội Biệt động thị xã Cà Mau, chị nổi tiếng với những chiến công lẫy lừng và sự hy sinh quả cảm ở tuổi 21, trở thành biểu tượng rực rỡ cho tinh thần cách mạng quật khởi của tuổi trẻ đất mũi.

Cha, con cùng ra trận

Kết thúc cuộc trường chinh 30 năm đánh giặc, ở mảnh đất có hình tượng như mũi con tàu, việc hai cha con cùng ra trận có lẽ không nhiều. Chính uỷ Trung đoàn 1, Quân khu 9, Vưu Hoà Thạnh (Tư Bằng) và con trai Vưu Minh Chiến là điển hình trong cuộc chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước đã để lại cho gia đình, đồng đội sự tiếc thương vô hạn.

Cà Mau truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và Huân chương Kháng chiến

Chiều 24/7, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và truy tặng Huân chương Kháng chiến cho các liệt sĩ có nhiều cống hiến trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026).

Viết tiếp trang sử quê hương từ hành trình tuổi trẻ

Những ngày Tháng 7, tại các địa chỉ đỏ, nghĩa trang liệt sĩ và gia đình chính sách trên địa bàn tỉnh Cà Mau luôn rộn ràng màu áo xanh tình nguyện. Với tuổi trẻ hôm nay, hoạt động tri ân không chỉ dừng ở những buổi dâng hương, dọn vệ sinh hay tặng quà, mà còn được cụ thể hoá bằng nhiều việc làm thiết thực như tổ chức "Bữa cơm tri ân", chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ... Qua đó góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quê hương.