Thứ sáu, 16-10-26 09:00:27
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nữ anh hùng LLVTND Phạm Thị Bay: Người chỉ đạo giải phóng Phân chi khu Cái Nước

Báo Cà Mau Tháng 10/1973, Huyện uỷ Cái Nước quyết định tăng cường đồng chí Phạm Thị Bay (Ba Bay), Huyện uỷ viên về làm Bí thư xã Tân Hưng Đông. Tháng 9/1974, Huyện uỷ Cái Nước mở đại hội và đề nghị đại diện các xã hạ quyết tâm cụ thể trong việc “tự lực, tự cường, giải phóng quê hương”.

Tháng 10/1973, Huyện uỷ Cái Nước quyết định tăng cường đồng chí Phạm Thị Bay (Ba Bay), Huyện uỷ viên về làm Bí thư xã Tân Hưng Đông. Tháng 9/1974, Huyện uỷ Cái Nước mở đại hội và đề nghị đại diện các xã hạ quyết tâm cụ thể trong việc “tự lực, tự cường, giải phóng quê hương”. Sau khi hạ quyết tâm với Huyện uỷ sẽ giải phóng xã Tân Hưng Đông trong thời gian 2 tháng, đồng chí Phạm Thị Bay trao đổi thống nhất trong Ban Thường vụ và Ban Chấp hành Xã uỷ, tiến hành phát động từ nội bộ Đảng ra đến quần chúng bằng những hình thức sáng tạo, chưa hề có tiền lệ, tạo thành sức mạnh tổng hợp giải phóng xã nhà trong thời gian ngắn nhất.

Ngày 3/10/1974, Ðại hội Ðảng bộ xã Tân Hưng Ðông tiến hành, có mặt 58 đồng chí (11 nữ). Trong hội trường có bàn thờ Bác Hồ, hương khói trang nghiêm. Ðại hội xác định nhiệm vụ trước mắt, đọc Di chúc Bác Hồ và “Thề quyết tử để giải phóng quê hương”. Từng người đều lên hạ quyết tâm cụ thể. Lời quyết tâm được đồng chí Tư Ép, Xã uỷ viên ghi vào quyển “Sổ vàng lịch sử”. Nội dung quyết tâm ghi cụ thể việc làm và ký tên bằng viết mực đỏ, tượng trưng màu máu.

Anh hùng LLVTND Phạm Thị Bay.         Ảnh: HOÀNG VŨ

Mỗi người lên phát biểu quyết tâm trước đại hội thực sự là lời tuyên thệ trước Bác Hồ, trước Ðảng, trước Nhân dân: “Không chiến thắng không trở lại bế mạc đại hội! Dù phải hy sinh phân nửa Ban Chấp hành hoặc phân nửa số đảng viên cũng sẵn sàng!”. Nếu những người tình nguyện ra đi giải phóng quê hương khi bế mạc đại hội không có mặt thì tên tuổi được lưu truyền, được gìn giữ để con cháu đời sau biết rằng ông cha, anh chị của mình đã anh dũng hy sinh như thế nào.

Sau khi Chi khu Cái Nước bị ta tiêu diệt tháng 9/1963, địch dời chi khu này đến Ðồng Cùng nhưng nơi đây vẫn còn là Phân chi khu, túc trực trên 250 quân Bảo an, cùng hệ thống đồn bót kiên cố, có 2 khẩu pháo 105 ly, 4 súng cối 81, 2 súng cối 61, 4 đại liên và 7 máy PRC25. Ngoài ra còn 1 tiểu đội thám báo, 1 tiểu đội phòng vệ dân sự và nhiều tên tề, điệp, mật báo khác. Về phía ta, tuy lực lượng đông nhưng trang bị vũ khí hết sức thô sơ, ít ỏi. Nếu không có quyết tâm sắt đá, không một lòng một dạ sẵn sàng hy sinh để đổi lấy độc lập tự do, thì không thể nào chiến thắng.

Ðồng chí Phạm Thị Bay phát biểu tình nguyện sưu tầm 10 đầu đạn pháo, 1.000 viên đạn và sẽ ra đứng mũi chiến hào. Vợ đồng chí Mười Diệp phát biểu: “Tôi chưa thấy đại hội nào khai mạc và chờ đến giải phóng mới bế mạc nên tôi rất tin, dù tuổi cao không ra chiến hào được, tôi hứa sẽ đi vận động tiếp tế đầy đủ để phục vụ anh em du kích bao vây giết giặc”. Nữ đồng chí Ba Hía vừa hứa quyết tâm sưu tầm vũ khí vừa hứa cận kề anh em du kích, sát cánh đánh giặc…

Có thể nói, đây là cuộc đại hội có một không hai trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta. Cách làm đặc biệt này gây ấn tượng rất mạnh mẽ đối với Ðảng bộ và Nhân dân Tân Hưng Ðông. 10 ngày sau, các cuộc đại hội của Ðoàn thanh niên, Nông dân, Phụ nữ và Lực lượng vũ trang diễn ra trong không khí náo nức. Hầu hết đoàn viên đều tình nguyện ra chiến hào và huy động dân công phục vụ chiến trường. Các chị, các mẹ, các chú, bác nông dân đều hứa tham gia sưu tầm vũ khí và chuẩn bị lực lượng bao vây tiêu diệt địch.

Ðể nắm chặt quân số, trang bị của địch và tình hình Nhân dân trong Phân chi khu, đồng chí Ba Bay hoá trang làm người đi khám bệnh, bố trí bà má Tám Cải và ông Bảy Cất đưa ra Cái Nước. Nhờ trực tiếp tai nghe mắt thấy, đồng chí có thể khái quát tình hình địch một cách cụ thể, tạo niềm tin đối với các lực lượng tham gia chiến đấu.

Cũng trong thời gian này, đồng chí Ba Bay, Má Tám, Ba Hía, Tám Chiền và Chín Tiến, Tư Tâm đến Ðồn Gộc Kỳ Ðà, địch vừa bỏ chạy để mò vũ khí. Sau 1 ngày mưa gió lạnh lẽo, đoàn mò được gần 1 xuồng be mười đạn các loại, trong đó có nhiều đạn súng cối 61 và 81 ly. Kết quả này làm cho phong trào sưu tầm vũ khí bộc phát rầm rộ. Kết quả tìm được: 17 đầu đạn 105 ly, 150 đạn cối các loại, 5.000 viên đạn. Ðồng bào vót 3.500 mũi chông, đốn 7.500 cây các loại để hàn 4 cái cản, đào đắp 150 công sự, chuẩn bị 1 tù và, 2 trống chầu, 1.100 cái mỏ, 5.000 băng cờ, khẩu hiệu, truyền đơn và những thứ cần thiết khác. Ðồng chí Sáu Nhịn, Xã uỷ viên cùng 2 anh em đồng chí Quang trực tiếp chế tạo bệ phóng để pháo kích vào đồn.

Ngày 1/12/1974, lực lượng ta đồng loạt bao vây Phân chi khu Cái Nước gồm 4 mũi. Hầu hết lực lượng du kích xã đều được huy động trực chiến liên tục tại trận địa. Riêng mũi chính trị, binh vận được bố trí nắm tình hình diễn biến của địch và phát động anh em binh sĩ, phản biến, phản chiến trở về với Nhân dân, đồng thời phát động đồng bào phá khu ấp chiến lược về ruộng vườn cũ. Ta còn chuẩn bị lực lượng dân công để khi giải phóng sẽ san bằng đồn bót của giặc.

Thời điểm này, khắp chiến trường miền Nam, quân giặc dao động, hoang mang tột độ. Các chiến thắng Tây Nguyên, Huế, Ðà Nẵng làm cho Mỹ - nguỵ bỏ chạy tơi bời. Ðó là thời cơ thuận lợi chưa từng có.

Trước khi nổ súng tiến công, ta phát loa kêu gọi binh sĩ. Bị pháo kích, bọn chúng hoang mang cho vợ con chạy trước. Bộ phận binh vận đón bắt lại giáo dục, ta nói với họ: “Bộ đội về đông lắm, xã đang chuẩn bị làm 5 con bò khao quân trước khi đánh đồn”. Ta còn dẫn họ đến những nơi có đơn vị và vũ khí “cỡ lớn” của ta để họ tận mắt chứng kiến. Tất nhiên là vũ khí giả được ngụy trang khéo léo. Sau đó ta cho họ xuống xuồng bơi ra đồn Bà Lộc để tác động binh sĩ nơi đây.

Đồn Cái Rắn, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước bị quân ta tiêu diệt đêm 3/6/1974.                       Ảnh: VÕ AN KHÁNH

Lực lượng ta tiếp tục bao vây uy hiếp Phân chi khu Cái Nước. Sau nhiều ngày đói cơm khát nước, máy bay trực thăng không hạ xuống được để tiếp tế lương thực và vũ khí, các nẻo đường đều bị ta đón chặn. Cuối cùng bọn chúng phải tháo chạy ra Giá Ngự vào 10 giờ đêm 15, rạng 16/12/1974. Vừa phát hiện, lực lượng ta lập tức truy kích, diệt tại chỗ một số tên và dùng loa phóng thanh kêu gọi chúng đầu hàng, kêu gọi đồng bào bao vây truy nã chúng.

Ðến 6 giờ sáng, ta đón bắt 6 tên, thu 2 súng cối 61, 1 cối 81, 6 súng M79 và 4 máy PRC25. Lực lượng Tỉnh đội được tin cũng tham gia đuổi theo chúng. Bọn chúng rất ngoan cố, trên đường tháo chạy sợ ta phát hiện, cứ mỗi lần có tiếng trẻ khóc (con của chúng) chúng đều bóp mũi, làm chết 4 cháu. Chiều 16/12/1974, ta gom xác binh lính bị tử thương, kể cả xác 4 cháu bé mới 3-4 tuổi, nhờ đồng bào chở ra căn cứ Ðồng Cùng cho chúng.

Kết quả trận bao vây tiêu diệt, bức rút Phân chi khu Cái Nước ta đã giải phóng 1 căn cứ quân sự cấp tiểu đoàn, 2 đồn tam giác và 9 lô cốt.

Ngày 26/12/1974, Ðảng bộ xã Tân Hưng Ðông tái họp đại hội, báo cáo tổng kết quá trình tập trung toàn lực cho công cuộc giải phóng quê hương trước bàn thờ Bác Hồ. Ðại hội thống nhất nêu kế hoạch xây dựng Ðền thờ Bác Hồ ở vị trí tốt đẹp nhất. Ðại hội bế mạc trong niềm hân hoan, vui sướng, tự hào.

 Ngày 5/1/1975, Ðền thờ Bác Hồ tại thị trấn Cái Nước được khởi công. Sau 83 ngày đêm xây dựng, 16 giờ 30 ngày 29/3/1975, xã Tân Hưng Ðông tổ chức lễ khánh thành Ðền thờ Bác Hồ. Hơn 17.000 đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đến dự…

Ngày 16/12/1974, xã Tân Hưng Ðông hoàn toàn giải phóng bằng sự tự lực, đồng thời xây dựng Ðền thờ Bác Hồ ngay trên căn cứ của quân thù ta vừa giành được trước 30/4/1975 hơn 1 tháng. Chiến tích phi thường này lưu truyền mãi với hậu thế bài học mưu trí, sáng tạo, độc đáo vô song của người phụ nữ rạng danh anh hùng Phạm Thị Bay./.

Trường Sơn Đông

Ðêm tháng Mười

Giữa năm 1959, cách mạng miền Nam nói chung, địa bàn huyện Ngọc Hiển nói riêng, phải đương đầu với những khó khăn chồng chất. Luật 10/59 của chính quyền Ngô Ðình Diệm do Mỹ dựng lên đã tổ chức các chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng", tiến hành càn quét, đánh phá liên miên; bọn tề điệp, ác ôn ngóc đầu dậy, nhất là tổ chức tự vệ hương thôn, trước họng súng và trong cửa nhà tù của chúng, những người dân lương thiện, bất cứ ai cũng đều có thể bị chúng quy là Việt cộng.

Lần đầu xem chiếu bóng

Một chiều đầu tháng 10/1966, được tin Ðội chiếu bóng Cà Mau - Ninh Bình thực hiện buổi chiếu đầu tiên ở Vịnh Dừa, cách cơ quan chúng tôi hơn 2 cây số, ai nấy đều háo hức. Bởi, chúng tôi đều sinh ra và lớn lên ở nông thôn, không ai biết chiếu bóng là gì. Còn bởi phim ảnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn của miền Nam, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

Nhớ thương đồng đội

Năm 1978, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Như, ấp Láng Giài, xã Hoà Bình, khi ấy đang độ tuổi đôi mươi, thực hiện nhiệm vụ tại Sư đoàn 4 (Quân khu 9) chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng chiến đấu vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. “Ðồng đội tôi năm đó được 35 người, giữa chiến trường ác liệt, nhiều người đã ngã xuống ngay trên tay tôi. Ðến nay, đồng đội tôi chỉ còn lại 3 người”, bà Như rơm rớm nước mắt.

Lắng nghe lịch sử giữa trùng khơi

Hành trình “Biển đảo quê hương” với chủ đề “Theo dấu chân anh hùng - Tuổi trẻ sắt son niềm tin với Ðảng” của Tuổi trẻ tỉnh Cà Mau vừa qua đưa đoàn viên, thanh niên (ÐVTN) đến với Côn Ðảo (Thành phố Hồ Chí Minh), nơi mỗi phần mộ, mỗi câu chuyện đều gắn với những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

“Buổi phát thanh gởi về Nam”

Tháng 8/1959, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề do Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, bắn giết, bắt tù đày tất thảy những người chúng cho là "Việt cộng". Nghị quyết 15 của Trung ương nhằm chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam còn trong giai đoạn triển khai...

Phát huy khí thế thành đồng Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Tự hào với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" trong sự nghiệp bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ cách đây 81 năm, Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng hôm nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân Cà Mau quyết tâm hoàn thiện hạ tầng chiến lược, vận hành bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.

Những "bông hoa lửa"

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc từng hứng chịu bom đạn, ký ức về những nữ anh hùng dấn thân vì Tổ quốc vẫn còn hiện hữu qua nhiều câu chuyện được truyền lại.