Thứ bảy, 3-10-26 17:56:50
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975-30/4/2025)

Trang sử Cà Mau thời kháng chiến năm 1973

Báo Cà Mau Sau Hiệp định Paris năm 1973, về mặt đấu tranh công khai, Ban Liên hợp quân sự 4 bên khu vực 4 (Quân khu 9), do đồng chí Hoàng Hà làm Trưởng ban, đồng chí Phạm Văn Liêm làm Phó ban, Tổ liên hợp Cà Mau do đồng chí Tống Kỳ Hiệp và đồng chí Trịnh Thành Kế phụ trách đã đấu tranh chống lại sự vi phạm Hiệp định của địch trong khu vực. Ta buộc địch công nhận vùng tự do của ta ở Cà Mau và đã thực hiện việc trao trả tù binh ở Kinh Ba, xã Quách Phẩm, huyện Ngọc Hiển (Tư Kháng), Ðầm Dơi ngày nay.

Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta.

Ðược Mỹ tiếp tay, Tổng thống nguỵ quyền Nguyễn Văn Thiệu hô hào “tràn ngập lãnh thổ” và đưa quân chủ lực cùng toàn bộ lực lượng địa phương tiến hành lấn chiếm vùng giải phóng của ta nhằm xoá bỏ tình trạng “da beo” (giữa vùng địch và ta xen kẽ nhau) bất lợi cho chúng.

Ở Cà Mau, chúng đưa Trung đoàn 32 (Sư 21) càn quét giải toả dọc tuyến sông Bảy Háp và ven thị xã Cà Mau, dọc tuyến sông Ông Ðốc, sông Cái Tàu (Trần Văn Thời), Sông Trẹm (Thới Bình), đưa Tiểu đoàn biệt động quân 76 lấn chiếm thủ Tam Giang, Kinh 17 (Năm Căn), quân bảo an đóng đồn Vàm Bà Kẹo (Trần Văn Thời), tái chiếm Bàu Vũng, Tân Hưng (Cái Nước) và nhiều nơi khác trong tỉnh.

Nhân dân Cà Mau đổ ra đường chào mừng quân cách mạng.  Ảnh tư liệu

Nhân dân Cà Mau đổ ra đường chào mừng quân cách mạng. Ảnh tư liệu

Ði đôi với càn quét lấn chiếm, địch ra sức củng cố nguỵ quân, nguỵ quyền, ráo riết bắt lính đôn quân, nâng chất gian ác phản động, tăng cường bộ máy kềm kẹp quần chúng - cưỡng ép cả thanh niên, thiếu nữ vào phòng vệ dân sự... Mặt khác, chúng ráo riết hành quân càn quét, cướp phá mùa màng mà chúng gọi là “phong toả” kinh tế ta, thực hiện quét sạch, đốt sạch, giết sạch nhằm gây khó khăn đời sống Nhân dân ở vùng căn cứ đông dân nhiều của ta.

Ngoài ra, chúng còn đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu dụ, chiêu hàng, tuyên truyền xuyên tạc hiệp định, đưa tin chiến thắng giả tạo, thậm chí chúng còn tuyên bố Hiệp định về ngừng bắn ở đây không còn giá trị.

Quán triệt nghị quyết của Hội nghị Khu uỷ mở rộng (ngày 3/2/1973), Tỉnh uỷ Cà Mau họp bàn và xác định nhiệm vụ trước mắt, triển khai kế hoạch thực hiện tân cơ sở. Với tinh thần tự lực tự cường, khắp nơi trong tỉnh, Nhân dân và lực lượng võ trang ta ra sức bao vây, tấn công địch bằng 3 mũi, mở rộng và giữ vững vùng giải phóng.

Ở thị xã Cà Mau, trước tình hình các xã vùng ven phát triển mạnh, nhất là phong trào tấn công binh vận từ sau Hiệp định Paris, lực lượng ta triển khai trên các địa bàn trọng điểm và có kế hoạch tỉ mỉ, chu đáo... Các lực lượng ở phía trước bám chặt địa bàn, bao vây đồn bót địch, phóng thanh, phát loa giải thích nội dung Hiệp định, kêu gọi binh sĩ lập công về với cách mạng. Khẩu hiệu “Mỹ thua về Mỹ, anh em binh sĩ về đâu?” lúc này tác động mạnh mẽ binh lính địch. Ta bao vây, phát loa kêu gọi binh sĩ ở các đồn bót. Ta gửi thư tay và phân phát bản Hiệp định tận gia đình binh sĩ, phổ biến chủ trương của Ðảng, chính sách hoà hợp của Mặt trận Dân tộc giải phóng, tháo gỡ những băn khoăn, hoài nghi cho binh sĩ. Hàng trăm gia đình hạ quyết tâm kêu gọi chồng, con em mình quay súng trở về với Nhân dân. Ta cũng chủ trương đánh một số trận vào nội ô để hỗ trợ binh lính và quần chúng đấu tranh. Ngày 16/4/1973, Ðội biệt động Hồ Thị Kỷ dùng chất nổ đánh xe quân cảnh đang vây ráp ở Phường 2, diệt 5 tên, phá hư 1 xe Jeep, gây ảnh hưởng lớn.

Hướng Nam Cà Mau, tháng 5/1973, lực lượng địa phương thị xã kết hợp cơ sở nội tuyến diệt đồn Cai Di, tiêu diệt 1 trung đội bảo an, thu 18 súng. Sau đó địch chiếm đóng lại. Ðến tháng 8/1973, ta tiếp tục đánh kỳ tập diệt đồn Cai Di lần 2. Cùng lúc, địa phương quân thị xã kết hợp với đặc công quân khu, đánh vào căn cứ hải quân Cà Mau, huỷ diệt 2 sà lan lớn - thớt bè của địch.

Phía Bắc Cà Mau, ta vây đồn Xóm Cảng, đánh bọn giải toả, diệt và làm bị thương 24 tên.

Ở huyện Trần Văn Thời, ta bao vây đồn thị tứ Sông Ðốc, đồn Bà Kẹo, phân chi khu cầu Chữ Y, Chi khu Rạch Ráng, tiêu diệt đồn Xóm Ruộng, Ðồn Cồi.

Tại huyện Thới Bình, ta bao vây Chi khu Thới Bình, đồn Xẽo Tre, Xóm Lớn, Rạch Giồng, Giồng Kè, đồn Cầu Số 2, đồn Cầu Số 6, tiêu diệt đồn Xóm Mới, đồn Cầu Số 3.

Ở huyện Cái Nước, đêm 14/4/1973, du kích xã Lương Thế Trân do đồng chí Xã đội trưởng Út Bình chỉ huy, trang bị 3 mìn định hướng, 1 đại liên, 2 M79, 15 khẩu M16 bí mật phục kích tại Xóm Rẫy, Nhà Phấn. Sáng 15/4/1973, tiểu đoàn chủ lực nguỵ đóng ở ấp Sở Tại cho 1 đại đội càn vào Nhà Phấn. Ta bố trí 3 mìn định hướng đội đầu, 2 tiểu đội mở theo hình miệng bát chờ sẵn. Quân địch kéo ngay vào đội hình ta phục kích. Ðợi địch đến thật gần, ta cho mìn nổ... Trong vòng 5 phút chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng đại đội này, diệt 19 tên, bắn bị thương 17 tên, bắt sống 5 tên, thu 13 súng, ta 2 đồng chí hy sinh và 2 bị thương.

Phong trào bao vây đánh lấn trên đà phát triển. Trong 1 tháng, địa phương quân Cái Nước kỳ tập diệt đồn Quảng Phú 2 lần. Một tuần đồn Mang Rổ 2 lần rút chạy. Ta tiếp tục bao vây các đồn dọc tuyến sông Bảy Háp: Cái Keo, Bà Lái, Vàm Xáng, Chi khu Giá Ngựa, Tân Hưng; các đồn theo trục lộ xe Cà Mau - Cái Nước: Bà Lộc, Chủ Nghi, Cống Ðá, Gộc Kỳ Ðà, Cây Ổi, Ba Lung, Rau Dừa và phân chi khu Cái Rắn.

Ở thị xã Cà Mau, du kích xã Lý Văn Lâm chống càn ở Lung Lá, đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an của Tiểu đoàn 446, diệt 8 tên, bắn bị thương 3 tên, ta thu 1 đại liên 60, 1 M16, nhiều quân trang, quân dụng và bẻ gãy cuộc càn của địch.

Huyện Châu Thành bao vây đồn Hoà Thành. Huyện Ngọc Hiển (Tư Kháng) bao vây Chi khu Ðầm Dơi, bức rút đồn Mương Ðiều, huyện Duyên Hải bao vây đồn Thủ Tam Giang, Kinh 17, đồn Cái Trăn. Ta liên tục tấn công địch, có những vị trí ta chiếm đi chiếm lại nhiều lần. Chi khu Giá Ngựa, Ðầm Dơi địch bung ra càn quét, ta đánh chặn buộc địch phải co rúc vào. Ðêm ta lại tiếp tục bao vây pháo kích. Ở các tuyến sông chiến lược: Tam Giang, Sông Ðốc, Bảy Háp, Cái Tàu, bộ đội địa phương và dân quân du kích liên tục chặn đánh tàu, xuồng chiến đấu của địch, làm chủ từng khúc sông. Từng lúc chặn không cho địch dùng đường sông tiếp tế cho chi khu, đồn bót bị ta bao vây. Có đợt chỉ trong vòng 10 ngày ta diệt 6 tàu địch trên sông Tam Giang.

Năm 1973, ta giải phóng thêm 6 xã: Nguyễn Huân, Tân Thuận, Tân Tiến, Quách Văn Phẩm, Tân Hưng, Khánh Hưng B.

(Theo tư liệu quyển sử “Minh Hải 30 năm chiến tranh giải phóng 1945-1975”, NXB Mũi Cà Mau 1986).

 

Nguyễn Minh

 

Nhớ thương đồng đội

Năm 1978, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Như, ấp Láng Giài, xã Hoà Bình, khi ấy đang độ tuổi đôi mươi, thực hiện nhiệm vụ tại Sư đoàn 4 (Quân khu 9) chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng chiến đấu vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. “Ðồng đội tôi năm đó được 35 người, giữa chiến trường ác liệt, nhiều người đã ngã xuống ngay trên tay tôi. Ðến nay, đồng đội tôi chỉ còn lại 3 người”, bà Như rơm rớm nước mắt.

Lắng nghe lịch sử giữa trùng khơi

Hành trình “Biển đảo quê hương” với chủ đề “Theo dấu chân anh hùng - Tuổi trẻ sắt son niềm tin với Ðảng” của Tuổi trẻ tỉnh Cà Mau vừa qua đưa đoàn viên, thanh niên (ÐVTN) đến với Côn Ðảo (Thành phố Hồ Chí Minh), nơi mỗi phần mộ, mỗi câu chuyện đều gắn với những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

“Buổi phát thanh gởi về Nam”

Tháng 8/1959, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề do Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, bắn giết, bắt tù đày tất thảy những người chúng cho là "Việt cộng". Nghị quyết 15 của Trung ương nhằm chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam còn trong giai đoạn triển khai...

Phát huy khí thế thành đồng Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Tự hào với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" trong sự nghiệp bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ cách đây 81 năm, Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng hôm nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân Cà Mau quyết tâm hoàn thiện hạ tầng chiến lược, vận hành bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.

Những "bông hoa lửa"

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc từng hứng chịu bom đạn, ký ức về những nữ anh hùng dấn thân vì Tổ quốc vẫn còn hiện hữu qua nhiều câu chuyện được truyền lại.

60 năm kiên trung dưới cờ Đảng

6 thập kỷ đứng trong hàng ngũ của Đảng, từng đi qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến ngày non sông thống nhất và hành trình đổi mới của quê hương, đất nước; hôm nay, khi mái đầu đã bạc, các đảng viên lão thành vẫn giữ trọn lời thề với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân.

Giữ lửa trong trái tim tuổi trẻ

Ðã 81 năm trôi qua, hào khí Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 luôn bất diệt trong mỗi trái tim người Việt Nam.