Thứ ba, 18-8-26 18:43:36
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975-30/4/2025)

Trang sử Cà Mau thời kháng chiến năm 1973

Báo Cà Mau Sau Hiệp định Paris năm 1973, về mặt đấu tranh công khai, Ban Liên hợp quân sự 4 bên khu vực 4 (Quân khu 9), do đồng chí Hoàng Hà làm Trưởng ban, đồng chí Phạm Văn Liêm làm Phó ban, Tổ liên hợp Cà Mau do đồng chí Tống Kỳ Hiệp và đồng chí Trịnh Thành Kế phụ trách đã đấu tranh chống lại sự vi phạm Hiệp định của địch trong khu vực. Ta buộc địch công nhận vùng tự do của ta ở Cà Mau và đã thực hiện việc trao trả tù binh ở Kinh Ba, xã Quách Phẩm, huyện Ngọc Hiển (Tư Kháng), Ðầm Dơi ngày nay.

Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta.

Ðược Mỹ tiếp tay, Tổng thống nguỵ quyền Nguyễn Văn Thiệu hô hào “tràn ngập lãnh thổ” và đưa quân chủ lực cùng toàn bộ lực lượng địa phương tiến hành lấn chiếm vùng giải phóng của ta nhằm xoá bỏ tình trạng “da beo” (giữa vùng địch và ta xen kẽ nhau) bất lợi cho chúng.

Ở Cà Mau, chúng đưa Trung đoàn 32 (Sư 21) càn quét giải toả dọc tuyến sông Bảy Háp và ven thị xã Cà Mau, dọc tuyến sông Ông Ðốc, sông Cái Tàu (Trần Văn Thời), Sông Trẹm (Thới Bình), đưa Tiểu đoàn biệt động quân 76 lấn chiếm thủ Tam Giang, Kinh 17 (Năm Căn), quân bảo an đóng đồn Vàm Bà Kẹo (Trần Văn Thời), tái chiếm Bàu Vũng, Tân Hưng (Cái Nước) và nhiều nơi khác trong tỉnh.

Nhân dân Cà Mau đổ ra đường chào mừng quân cách mạng.  Ảnh tư liệu

Nhân dân Cà Mau đổ ra đường chào mừng quân cách mạng. Ảnh tư liệu

Ði đôi với càn quét lấn chiếm, địch ra sức củng cố nguỵ quân, nguỵ quyền, ráo riết bắt lính đôn quân, nâng chất gian ác phản động, tăng cường bộ máy kềm kẹp quần chúng - cưỡng ép cả thanh niên, thiếu nữ vào phòng vệ dân sự... Mặt khác, chúng ráo riết hành quân càn quét, cướp phá mùa màng mà chúng gọi là “phong toả” kinh tế ta, thực hiện quét sạch, đốt sạch, giết sạch nhằm gây khó khăn đời sống Nhân dân ở vùng căn cứ đông dân nhiều của ta.

Ngoài ra, chúng còn đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu dụ, chiêu hàng, tuyên truyền xuyên tạc hiệp định, đưa tin chiến thắng giả tạo, thậm chí chúng còn tuyên bố Hiệp định về ngừng bắn ở đây không còn giá trị.

Quán triệt nghị quyết của Hội nghị Khu uỷ mở rộng (ngày 3/2/1973), Tỉnh uỷ Cà Mau họp bàn và xác định nhiệm vụ trước mắt, triển khai kế hoạch thực hiện tân cơ sở. Với tinh thần tự lực tự cường, khắp nơi trong tỉnh, Nhân dân và lực lượng võ trang ta ra sức bao vây, tấn công địch bằng 3 mũi, mở rộng và giữ vững vùng giải phóng.

Ở thị xã Cà Mau, trước tình hình các xã vùng ven phát triển mạnh, nhất là phong trào tấn công binh vận từ sau Hiệp định Paris, lực lượng ta triển khai trên các địa bàn trọng điểm và có kế hoạch tỉ mỉ, chu đáo... Các lực lượng ở phía trước bám chặt địa bàn, bao vây đồn bót địch, phóng thanh, phát loa giải thích nội dung Hiệp định, kêu gọi binh sĩ lập công về với cách mạng. Khẩu hiệu “Mỹ thua về Mỹ, anh em binh sĩ về đâu?” lúc này tác động mạnh mẽ binh lính địch. Ta bao vây, phát loa kêu gọi binh sĩ ở các đồn bót. Ta gửi thư tay và phân phát bản Hiệp định tận gia đình binh sĩ, phổ biến chủ trương của Ðảng, chính sách hoà hợp của Mặt trận Dân tộc giải phóng, tháo gỡ những băn khoăn, hoài nghi cho binh sĩ. Hàng trăm gia đình hạ quyết tâm kêu gọi chồng, con em mình quay súng trở về với Nhân dân. Ta cũng chủ trương đánh một số trận vào nội ô để hỗ trợ binh lính và quần chúng đấu tranh. Ngày 16/4/1973, Ðội biệt động Hồ Thị Kỷ dùng chất nổ đánh xe quân cảnh đang vây ráp ở Phường 2, diệt 5 tên, phá hư 1 xe Jeep, gây ảnh hưởng lớn.

Hướng Nam Cà Mau, tháng 5/1973, lực lượng địa phương thị xã kết hợp cơ sở nội tuyến diệt đồn Cai Di, tiêu diệt 1 trung đội bảo an, thu 18 súng. Sau đó địch chiếm đóng lại. Ðến tháng 8/1973, ta tiếp tục đánh kỳ tập diệt đồn Cai Di lần 2. Cùng lúc, địa phương quân thị xã kết hợp với đặc công quân khu, đánh vào căn cứ hải quân Cà Mau, huỷ diệt 2 sà lan lớn - thớt bè của địch.

Phía Bắc Cà Mau, ta vây đồn Xóm Cảng, đánh bọn giải toả, diệt và làm bị thương 24 tên.

Ở huyện Trần Văn Thời, ta bao vây đồn thị tứ Sông Ðốc, đồn Bà Kẹo, phân chi khu cầu Chữ Y, Chi khu Rạch Ráng, tiêu diệt đồn Xóm Ruộng, Ðồn Cồi.

Tại huyện Thới Bình, ta bao vây Chi khu Thới Bình, đồn Xẽo Tre, Xóm Lớn, Rạch Giồng, Giồng Kè, đồn Cầu Số 2, đồn Cầu Số 6, tiêu diệt đồn Xóm Mới, đồn Cầu Số 3.

Ở huyện Cái Nước, đêm 14/4/1973, du kích xã Lương Thế Trân do đồng chí Xã đội trưởng Út Bình chỉ huy, trang bị 3 mìn định hướng, 1 đại liên, 2 M79, 15 khẩu M16 bí mật phục kích tại Xóm Rẫy, Nhà Phấn. Sáng 15/4/1973, tiểu đoàn chủ lực nguỵ đóng ở ấp Sở Tại cho 1 đại đội càn vào Nhà Phấn. Ta bố trí 3 mìn định hướng đội đầu, 2 tiểu đội mở theo hình miệng bát chờ sẵn. Quân địch kéo ngay vào đội hình ta phục kích. Ðợi địch đến thật gần, ta cho mìn nổ... Trong vòng 5 phút chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng đại đội này, diệt 19 tên, bắn bị thương 17 tên, bắt sống 5 tên, thu 13 súng, ta 2 đồng chí hy sinh và 2 bị thương.

Phong trào bao vây đánh lấn trên đà phát triển. Trong 1 tháng, địa phương quân Cái Nước kỳ tập diệt đồn Quảng Phú 2 lần. Một tuần đồn Mang Rổ 2 lần rút chạy. Ta tiếp tục bao vây các đồn dọc tuyến sông Bảy Háp: Cái Keo, Bà Lái, Vàm Xáng, Chi khu Giá Ngựa, Tân Hưng; các đồn theo trục lộ xe Cà Mau - Cái Nước: Bà Lộc, Chủ Nghi, Cống Ðá, Gộc Kỳ Ðà, Cây Ổi, Ba Lung, Rau Dừa và phân chi khu Cái Rắn.

Ở thị xã Cà Mau, du kích xã Lý Văn Lâm chống càn ở Lung Lá, đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an của Tiểu đoàn 446, diệt 8 tên, bắn bị thương 3 tên, ta thu 1 đại liên 60, 1 M16, nhiều quân trang, quân dụng và bẻ gãy cuộc càn của địch.

Huyện Châu Thành bao vây đồn Hoà Thành. Huyện Ngọc Hiển (Tư Kháng) bao vây Chi khu Ðầm Dơi, bức rút đồn Mương Ðiều, huyện Duyên Hải bao vây đồn Thủ Tam Giang, Kinh 17, đồn Cái Trăn. Ta liên tục tấn công địch, có những vị trí ta chiếm đi chiếm lại nhiều lần. Chi khu Giá Ngựa, Ðầm Dơi địch bung ra càn quét, ta đánh chặn buộc địch phải co rúc vào. Ðêm ta lại tiếp tục bao vây pháo kích. Ở các tuyến sông chiến lược: Tam Giang, Sông Ðốc, Bảy Háp, Cái Tàu, bộ đội địa phương và dân quân du kích liên tục chặn đánh tàu, xuồng chiến đấu của địch, làm chủ từng khúc sông. Từng lúc chặn không cho địch dùng đường sông tiếp tế cho chi khu, đồn bót bị ta bao vây. Có đợt chỉ trong vòng 10 ngày ta diệt 6 tàu địch trên sông Tam Giang.

Năm 1973, ta giải phóng thêm 6 xã: Nguyễn Huân, Tân Thuận, Tân Tiến, Quách Văn Phẩm, Tân Hưng, Khánh Hưng B.

(Theo tư liệu quyển sử “Minh Hải 30 năm chiến tranh giải phóng 1945-1975”, NXB Mũi Cà Mau 1986).

 

Nguyễn Minh

 

Bảy Háp - Dòng sông huyền thoại

Từ kênh xáng Ðội Cường kết nối với sông Gành Hào, cùng những nhánh rẽ, dòng Bảy Háp (hay còn có tên gọi là Bảy Hạp) chở nặng những hạt phù sa từ bờ Ðông sang bồi đắp bờ Tây, dựng lên những bãi bồi, gây rừng ngập mặn, cho đất thêm xanh, cho rừng lấn biển.

Ký ức “địa chỉ đỏ”

Từng công tác ở Văn phòng Tỉnh uỷ thời kháng chiến những năm 1960, tôi vinh dự được làm nhân chứng tháp tùng cùng Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lê Minh Sơn và một số cán bộ về lại Rẫy Mới - kênh Tư Mầu, phía sau sông Mỹ Bình để tìm nhà ông Lê Phương Hồng, nguyên cán bộ tôn giáo vận tỉnh trong thời chống Mỹ. Ðây là chuyến khảo sát địa chỉ đỏ cuối cùng ở xã Phong Lạc và Phong Ðiền (cũ).

Vẹn trọn đạo lý, vững bước tương lai

Những ngày tháng Bảy, mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc như lắng lại trong không khí thiêng liêng của dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; dòng chảy tri ân đang cuộn trào trên khắp quê hương Cà Mau, kết nối lịch sử hào hùng với khát vọng vươn mình của hôm nay.

Sức sống mới trên Đôn Bơ - Cựa Gà

Vùng quê cách mạng Đôn Bơ - Cựa Gà (ấp Thạnh Hưng 2, xã Vĩnh Mỹ) hôm nay đổi thay, khởi sắc từng ngày. Những dấu tích chiến tranh được gìn giữ, giáo dục truyến thống; những chính sách đền ơn đáp nghĩa được triển khai thiết thực, góp phần để vùng đất từng chịu nhiều mất mát trong chiến tranh vươn lên trong nhịp sống mới.

Nối dài mạch nguồn tri ân

Tháng Bảy về, khắp các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cà Mau lại rộn ràng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Mỗi món quà trao đi, mỗi lời thăm hỏi chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối mạch nguồn tri ân sâu sắc công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc.

Xây tượng nữ anh hùng Hồ Thị Kỷ: Bông sen lửa sáng mãi trên đất Cà Mau

Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Hồ Thị Kỷ (1949-1970) sinh ra tại ấp Cây Khô, xã Tân Lợi (nay là Xã Hồ Thị Kỷ). Hoạt động trong Ðội Biệt động thị xã Cà Mau, chị nổi tiếng với những chiến công lẫy lừng và sự hy sinh quả cảm ở tuổi 21, trở thành biểu tượng rực rỡ cho tinh thần cách mạng quật khởi của tuổi trẻ đất mũi.

Cha, con cùng ra trận

Kết thúc cuộc trường chinh 30 năm đánh giặc, ở mảnh đất có hình tượng như mũi con tàu, việc hai cha con cùng ra trận có lẽ không nhiều. Chính uỷ Trung đoàn 1, Quân khu 9, Vưu Hoà Thạnh (Tư Bằng) và con trai Vưu Minh Chiến là điển hình trong cuộc chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước đã để lại cho gia đình, đồng đội sự tiếc thương vô hạn.

Cà Mau truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và Huân chương Kháng chiến

Chiều 24/7, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và truy tặng Huân chương Kháng chiến cho các liệt sĩ có nhiều cống hiến trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026).

Viết tiếp trang sử quê hương từ hành trình tuổi trẻ

Những ngày Tháng 7, tại các địa chỉ đỏ, nghĩa trang liệt sĩ và gia đình chính sách trên địa bàn tỉnh Cà Mau luôn rộn ràng màu áo xanh tình nguyện. Với tuổi trẻ hôm nay, hoạt động tri ân không chỉ dừng ở những buổi dâng hương, dọn vệ sinh hay tặng quà, mà còn được cụ thể hoá bằng nhiều việc làm thiết thực như tổ chức "Bữa cơm tri ân", chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ... Qua đó góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quê hương.

Người còn lại

Ðứng trước công trình Bia tội ác Mỹ - nguỵ ở Bàu Hang - Tân Tiến, người cựu chiến binh lão thành tuổi 83 Nguyễn Văn Tòng (sinh năm 1943, quê ấp Tân Ðức A, xã Tân Ðức, huyện Ðầm Dơi cũ; nay là xã Tân Thuận) không thể nào quên ký ức cách đây 67 năm - ngày giặc gieo rắc tội ác kinh hoàng ngay tại nơi này.