Đấu tranh phòng chống khủng bố hiện là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia. Xây dựng Luật Phòng chống khủng bố nhằm góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và đáp ứng tình hình thực tế trong nước và quốc tế.
![]() |
| Các chiến sĩ thực hiện bài tập chống khủng bố, giải thoát con tin trên xe ôtô. Ảnh: T.L |
Quá trình soạn thảo Luật Phòng chống khủng bố đã tổng kết đầy đủ, toàn diện công tác phòng chống khủng bố ở nước ta, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm các nước. Bên cạnh đó, việc xây dựng luật sẽ góp phần tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, vững chắc cho công tác phòng chống khủng bố và tài trợ cho khủng bố, bảo đảm phù hợp với thực tiễn Việt Nam và có tính khả thi.
Luật Phòng chống khủng bố gồm 8 chương, 51 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2013. Chương I (từ Điều 1 đến Điều 11) gồm những quy định chung, trong đó nêu rõ: Luật quy định về nguyên tắc, chính sách, biện pháp, lực lượng phòng chống khủng bố, hợp tác quốc tế và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng chống khủng bố. Luật được áp dụng cho các đối tượng gồm công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam; tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài, người nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Chương I cũng quy định các nhóm chính sách sẽ được thực hiện để bảo đảm hiệu quả công tác phòng chống khủng bố như nâng cao năng lực, sức mạnh của các lực lượng chức năng; khuyến khích, huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân; nghiêm trị các đối tượng thực hiện hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố…
Chương II quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo phòng chống khủng bố; lực lượng chống khủng bố; người chỉ huy chống khủng bố; trang bị, vũ khí sử dụng, công cụ, phương tiện chống khủng bố…
Chương III quy định một số biện pháp cơ bản để phòng ngừa khủng bố và tài trợ khủng bố. Đó là thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng chống khủng bố; quản lý hành chính về an ninh, trật tự; kiểm soát hoạt động giao thông - vận tải; kiểm soát giao dịch tiền, tài sản; kiểm soát phương tiện, hàng hóa xuất - nhập khẩu, quá cảnh; kiểm soát hoạt động xuất bản, báo chí, bưu chính, viễn thông và kiểm soát các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh…
Chương IV đề cập đến vấn đề chống khủng bố, phát hiện khủng bố; tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về khủng bố; biện pháp chống khủng bố; chống khủng bố tại trụ sở cơ quan ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế và chỗ ở của thành viên cơ quan này; chống khủng bố đối với cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Bên cạnh đó, luật cũng có một chương quy định về phát hiện tài trợ khủng bố, tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tài trợ khủng bố; nhận biết, cập nhật thông tin khách hàng và áp dụng biện pháp tạm thời; kiểm soát vận chuyển tiền mặt, kim khí quý, đá quý và công cụ chuyển nhượng qua biên giới.
Luật Phòng chống khủng bố còn có quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung, trách nhiệm hợp tác quốc tế trong phòng chống khủng bố; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong phòng chống khủng bố. Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về phòng chống khủng bố; Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ, chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, các bộ, ngành liên quan; UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý Nhà nước về phòng chống khủng bố.
Bộ Công an là cơ quan chủ trì giúp Chính phủ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai thi hành luật này. Một số công việc trọng tâm là tổ chức phổ biến, tuyên truyền, quán triệt nội dung của luật; xây dựng Nghị định để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật.
Kim Kim

Truyền hình








Xem thêm bình luận