Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, được tổ chức tại một địa bàn dân cư với không gian và thời gian xác định. Theo cách hiểu thông thường, lễ hội bao gồm 2 phần: phần lễ (gồm những nghi thức, nghi lễ cúng kiếng, bái vọng...) và phần hội (gồm những hoạt động gặp gỡ, giao lưu, vui chơi giải trí, văn hoá - văn nghệ, thể dục - thể thao...).
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, được tổ chức tại một địa bàn dân cư với không gian và thời gian xác định. Theo cách hiểu thông thường, lễ hội bao gồm 2 phần: phần lễ (gồm những nghi thức, nghi lễ cúng kiếng, bái vọng...) và phần hội (gồm những hoạt động gặp gỡ, giao lưu, vui chơi giải trí, văn hoá - văn nghệ, thể dục - thể thao...).
Từ xa xưa, với đặc thù của nền nông nghiệp lúa nước, những sinh hoạt văn hoá của các cộng đồng dân cư thường diễn ra vào lúc nông nhàn, lịch mùa vụ và thời tiết đều thuận lợi cho việc vui chơi, trẫy hội. Mùa xuân và mùa thu là thời điểm diễn ra nhiều lễ hội nhất trong năm.
![]() |
| Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương trang trọng của người dân chót cùng mũi đất. |
Về cơ bản, có thể chia ra 2 loại hình lễ hội phổ biến, đó là lễ hội dân gian và lễ hội hiện đại. Lễ hội dân gian tồn tại từ lâu đời, do người dân địa phương tổ chức, thường gắn liền với tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc mang tính chất tưởng niệm một sự kiện, một nhân vật lịch sử nào đó. Lễ hội hiện đại phát triển nhiều trong những năm gần đây, thường mang tính chất tổ chức sự kiện: Festival, Carnaval, Lễ hội Giao thừa, Lễ hội Trung thu, Lễ hội Bia...
Theo số liệu thống kê, hiện nay cả nước ta có trên 8.000 lễ hội được tổ chức ở các địa phương với nhiều tính chất, đặc điểm, mức độ, quy mô khác nhau. Chỉ tính riêng trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã có hàng chục lễ hội được tổ chức hằng năm, trong đó có những lễ hội tiêu biểu như: Lễ hội Nghinh Ông (thị trấn Sông Ðốc, huyện Trần Văn Thời), Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương (xã Tân Phú, huyện Thới Bình), Lễ Kỳ Yên, Lễ Thượng Ðiền, Lễ Hạ Ðiền được tổ chức tại các đình thần, Lễ Okombok của đồng bào dân tộc Khmer ở nhiều địa phương trong tỉnh.
Bên cạnh đó, một số lễ hội mang tính chất tôn giáo, tín ngưỡng như: Lễ Phật Ðản (rằm tháng Tư âm lịch), Lễ Vu lan (rằm tháng Bảy âm lịch) được tổ chức tại các chùa, cơ sở thờ tự tôn giáo; Lễ Vía Bà Thiên Hậu diễn ra tại các miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu; Lễ Vía Bà Thuỷ Long Thần Nữ; Lễ Vía Bà Chúa xứ... và nhiều lễ hội dân gian khác thu hút sự tham gia của các cộng đồng dân cư địa phương.
Trong những năm gần đây, việc tổ chức lễ hội ở các địa phương trong tỉnh ngày càng được các ngành, các cấp quan tâm, đặc biệt là sự vào cuộc của ngành văn hoá, thể thao và du lịch. Từ đó, nội dung tổ chức diễn ra vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm góp phần thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội theo chủ trương của Ðảng và Nhà nước. Mặc dù các văn bản quy định, hướng dẫn về tổ chức và quản lý lễ hội chưa đầy đủ nhưng các lễ hội diễn ra nền nếp, tuân thủ theo phong tục truyền thống, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của Nhân dân.
Bản chất của việc tổ chức lễ hội là hoạt động sinh hoạt tinh thần của cộng đồng với vai trò chủ thể là cộng đồng dân cư địa phương. Những nghi thức, nghi lễ diễn ra tại lễ hội chính là biểu tượng văn hoá được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sức mạnh tâm linh của cộng đồng được hội tụ qua các nghi thức hành lễ, mọi người cùng gửi gắm niềm tin - tín ngưỡng của mình vào đối tượng thờ cúng để nguyện cầu, ước vọng chung về những điều tốt đẹp: “phong điều vũ thuận” (mưa thuận gió hoà), “quốc thới dân an”, mùa màng tươi tốt...
Tại lễ hội, nhiều sinh hoạt văn hoá diễn ra với sự tham gia chủ động của cộng đồng, những tài năng “quần chúng” từ đây được bộc lộ, mà có cơ hội thể hiện mình, các tuồng tích dân gian, các trò diễn... do cộng đồng tự tổ chức và tự đánh giá, điều chỉnh. Nhiều trò chơi dân gian từ đây mà sản sinh và phát triển. Chính những sinh hoạt cộng đồng này giúp con người gần gũi nhau hơn, hiểu biết lẫn nhau, đôi khi giúp xoa dịu những mâu thuẫn, căng thẳng trong quan hệ hằng ngày, từ đó có thể là tăng dần những điểm chung và giảm dần những điểm khác biệt. Ðây chính là biểu hiện giá trị văn hoá của cộng đồng.
Có thể nói, trong thời gian diễn ra lễ hội, đời sống văn hoá được nâng lên ở mức cao hơn so với ngày thường, bởi sau những ngày lao động sản xuất, tất bật với “cơm, áo, gạo, tiền” con người có dịp thư giãn, chia sẻ và thụ hưởng các giá trị của cuộc sống đối với cộng đồng. Bên cạnh đó, lễ hội cũng tạo ra nụ cười, đem lại niềm vui cho mọi người, vì vậy nên dân gian có câu: “vui như hội”. Nơi đây cái đẹp có cơ hội phát huy, cái xấu sẽ bị cộng đồng đào thải, con người tìm đến đây với mục đích hướng thiện và thanh lọc tâm hồn, tái tạo năng lượng cho cuộc sống.
Theo truyền thống, đối với lễ hội dân gian thì các nghi thức, chương trình, kịch bản chủ yếu được lưu truyền qua trí nhớ của nhiều thế hệ. Ban trị sự hay ban tổ chức các lễ hội là những người lớn tuổi, có uy tín trong cộng đồng, được cộng đồng tín nhiệm trao quyền thực hiện các vai trò chủ yếu (chánh bái, chánh lễ...). Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức lễ hội lại có sự giám sát, điều chỉnh của cộng đồng dân cư. Những nghi thức, nghi lễ chưa đúng sẽ được cộng đồng góp ý điều chỉnh, những thủ tục còn thiếu sẽ được bổ sung, từ đó các giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội được cộng đồng bảo tồn, gìn giữ.
Vai trò của cộng đồng trong lễ hội đã được chứng minh qua quá trình lịch sử. Việc đề cao vai trò của cộng đồng, của Nhân dân địa phương trong tổ chức và quản lý lễ hội, đặc biệt đối với các lễ hội dân gian là hết sức cần thiết. Cộng đồng cần được tạo điều kiện tốt nhất để tham gia tổ chức các lễ hội ở địa phương mình, từ đó có điều kiện phát huy bản sắc, đặc trưng văn hoá, góp phần giới thiệu, quảng bá những nét đẹp về vùng đất, con người địa phương./.
Bài và ảnh: Nguyễn Phú Hưng

Truyền hình








Xem thêm bình luận