Thứ bảy, 17-10-26 00:34:56
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Thăm căn cứ xưa

Báo Cà Mau Một sáng cuối năm 2025, tôi và anh Phạm Thạnh Trị - đồng đội từng công tác tại Văn phòng Tỉnh uỷ từ cuối năm 1960-1975, được anh Lê Minh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cà Mau, mời về thăm lại Di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Ðước (ấp Xẻo Ðước, xã Phú Mỹ), nhắc nhớ ký ức những năm tháng sống và làm việc ở nơi này.

Đường đi ngang qua đầm Thị Tường, đầm nước mênh mông, màu bàng bạc, sóng nổi lăn tăn, bìa đầm xanh rì mút mắt. Cảnh xưa, người cũ ùa về xao xuyến, bâng khuâng. Khu di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Ðước và đầm Thị Tường tựa như bản hoà ca có cả chất thép và lãng mạn, trữ tình.

Ðặt chân đến khu di tích, đọc những dòng chữ trên tượng đài, quan sát các hạng mục, rảo bước theo những lối mòn khuất dưới hàng dừa, bụi tre, trúc, giữa những hàng xoài đang trổ bông..., khung cảnh ngày xưa như hiện hữu.

Trong nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, nhìn chiếc máy đánh chữ to kềnh, tôi lại nhớ chiếc Tippa bé xíu, nặng chừng 4,5 kg - công cụ “hành nghề” của tôi và anh Phạm Thạnh Trị suốt 15 năm. Từ chiếc máy ấy, hàng ngàn trang tài liệu, thư từ mang dấu “mật”, “hoả tốc” ra đời. Với chiếc Tippa này, anh Phạm Thạnh Trị trở thành “kiện tướng” đánh máy: 10 ngón tay thuần thục trên bàn phím, mắt không rời bản thảo, hết dòng thì chuông báo, đưa tay gạt cần, cứ vậy mà đánh tiếp, chẳng mấy chốc đã xong. Có lần, vì nhớ, tôi tìm đến bảo tàng để gặp lại “người bạn cũ” ấy. Ước gì Bảo tàng đưa chiếc Tippa về đây, để hiện vật gắn liền với di tích, minh hoạ sinh động, giúp người tham quan hiểu thêm lịch sử cách mạng.

Dừng chân ở hạng mục nhà làm việc của Bí thư Tỉnh uỷ: diện tích chỉ chừng 10 m², mái lá, vách lá và chiếc giường đơn sơ. Thời kháng chiến, gần 8 năm liền, 2 đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Văn Ðáng (Tư Hườn) và Nguyễn Minh Ðức (Bảy Nông) thay nhau sinh hoạt, làm việc tại đây.

Nhà làm việc của Bí thư Tỉnh uỷ với vách lá, chiếc giường và bàn làm việc đơn sơ.

Cũng cần nói thêm, trước khi cơ quan Tỉnh uỷ đặt bản doanh tại Xẻo Ðước, trong bán kính vài ki-lô-mét, từ năm 1960-1965, các Bí thư: Vũ Ðình Liệu (Tư Bình), Phan Ngọc Sến (Mười Kỹ), Nguyễn Ngọc Sanh (Mười Thiện) từng sống và làm việc tại nhà ông Bảy Ðăng, má Chín Chức ở rạch Mà Ca; nhà ông Lâm Việt Hồng ở Mỹ Thành; nhà ông Nguyễn Văn Quơn và má Năm ở Ðất Cháy; nhà ông Hai Thường ở sát khu di tích này. Ðảng bộ và Nhân dân Phú Mỹ, Phong Lạc đã hoàn thành xuất sắc căn cứ lòng dân cho đến ngày 30/4 toàn thắng.

Bước vào hạng mục Nhà mã thám, ký ức buồn hiện về. Anh Huỳnh Văn Nhụ (Tư Vững), Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ, hy sinh trong chuyến công tác qua Sông Ðốc. Từ tháng 8/1961 đến tháng 10/1969, các cán bộ mã thám: Phạm Quang Long (Tư Vui), Ðoàn Nghĩa Hiệp (Năm Nhật) và Phạm Văn Bảo lần lượt hy sinh. Thời chiến tranh, nơi này cũng là mặt trận. Phần mộ anh Phạm Quang Long và anh Ðoàn Nghĩa Hiệp chôn tại nghĩa trang kênh xáng Thị Kẹo, giáp sông Mỹ Bình, bị san bằng khi địch đóng đồn. Thương em, thương chú, gia đình anh Ðoàn Nghĩa Hiệp xây ngôi mộ gió ở nghĩa trang Xã Nguyễn Phích. Tả lại cảnh chôn cất anh, trong bài thơ “Từ nơi này anh đi”, tôi có viết mấy câu:

"Giấc ngủ không chăn gối

Lỏng bỏng mấy tấm lá chầm

Ðất nhô lên làm mộ

Cúi đầu lặng lẽ trong đêm".

Nhà mã thám trong Khu Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Ðước. Ảnh: TẤN LỰC

Trên trục đường bê tông dẫn sâu vào khu di tích, bên phải là nhà bếp, nhà ăn, những chiếc chén, dĩa thô sơ, chai sành đựng nước mắm, hũ muối vẫn còn đó. Nơi đây, tôi nhớ anh Hai Dừa, được nhiều người gọi là “quản gia” của Thường trực Tỉnh uỷ lúc bấy giờ. Dù một bàn tay bị bỏng từ nhỏ, do không biết cách chạy chữa nên 5 ngón dính liền thành nắm, nhưng không việc gì anh không làm được. Gạo, muối, cá mắm, đường, đậu, đèn dầu... đều qua bàn tay anh nấu nướng, sử dụng thành thục.

Ði sâu thêm chút nữa, cặp bìa rừng là những hầm bí mật do bộ phận căn cứ của chú Khổng Minh Thanh (Hai Hiền) lắp đặt, nằm im lìm, khuất trong lùm cây, bụi cỏ. Tôi lại ước Bảo tàng tạo điều kiện để du khách được xuống hầm, cảm nhận thế nào là sự ngột ngạt do thiếu không khí, hiểu rằng sự sống khi ấy phụ thuộc vào các lỗ thông hơi.

Còn đó bộ phận VTD (hiệu thính) với yêu cầu phải ở xa thường trực để tránh địch phát hiện toạ độ phát sóng; nút giao liên từ Văn phòng Tỉnh uỷ đến trạm Hai Hoả cũng được bố trí khá xa; gần 50 cán bộ, chiến sĩ đội phòng thủ luôn ở vòng ngoài, không biết bao lần chốt chặn ven sông, dọc lộ để bảo vệ đoàn cán bộ Tỉnh uỷ đi qua, hay chủ động phục kích, đánh toán biệt kích ở vàm Rạch Dinh - sông Ông Ðốc, cung cấp hàng chục cán bộ cấp tiểu đội, trung đội cho Tiểu đoàn U Minh 2 trong đợt tiến công Tết Mậu Thân...

Tham quan các hạng mục trong khu di tích, chúng tôi dường như nghe được lời thì thầm của quá khứ, của những năm tháng không thể nào quên.

Tôi mong các thuyết minh viên truyền tải đầy đủ những giá trị lịch sử của khu di tích cho khách tham quan. Thêm điều mong mỏi nữa, trong khi chờ hoàn thiện diện mạo khu sinh thái đầm Thị Tường, cùng với tu bổ, làm mới các hạng mục ở khu căn cứ, nên xây cây cầu vươn ra mé đầm, với bến bê tông rộng vài trăm mét vuông để du khách không chỉ tham quan mà còn trải nghiệm nắng, gió, thậm chí cả mưa đầm; khôi phục thuyền chở du khách rong ruổi khắp đầm trên, đầm dưới, cảm nhận “biển cạn” duy nhất của đồng bằng sông Cửu Long mà thiên nhiên ban tặng; thưởng thức món cá ngát đầm nấu canh chua chuối ghém, kho tương; thả hồn theo mặt nước, nhâm nhi tách cà phê nóng...

Chuyến trở về cuối năm ngắn ngủi, tôi không có dịp thăm lại gia đình anh Bảy Thân, chú Hai Thường, chú Sáu Nhật, chú Ba Cây, anh Ba Hụi, anh Tư Roi, chú Tám Kế... ở dài theo Xẻo Ðước, nơi đã đùm bọc, nuôi dưỡng Văn phòng Tỉnh uỷ một thời gian dài, nơi mỗi lần trở lại chúng tôi như được về với gia đình mình. Không có dịp đứng trên cầu Bà Ký để tìm lại ánh đèn dầu chai leo lét trong cái đó đặt tôm của chúng tôi ở sát mé đập, mỗi con nước rong là đổ được hàng ký tôm đất nhảy xối xả trong thùng. Không có thời gian để nhớ những đêm thả lưới, chài tôm, bao chà trên đầm, đầu đội ánh trăng bàng bạc hoặc vòm trời đầy sao.../.

Nguyễn Thái Thuận

Ðêm tháng Mười

Giữa năm 1959, cách mạng miền Nam nói chung, địa bàn huyện Ngọc Hiển nói riêng, phải đương đầu với những khó khăn chồng chất. Luật 10/59 của chính quyền Ngô Ðình Diệm do Mỹ dựng lên đã tổ chức các chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng", tiến hành càn quét, đánh phá liên miên; bọn tề điệp, ác ôn ngóc đầu dậy, nhất là tổ chức tự vệ hương thôn, trước họng súng và trong cửa nhà tù của chúng, những người dân lương thiện, bất cứ ai cũng đều có thể bị chúng quy là Việt cộng.

Lần đầu xem chiếu bóng

Một chiều đầu tháng 10/1966, được tin Ðội chiếu bóng Cà Mau - Ninh Bình thực hiện buổi chiếu đầu tiên ở Vịnh Dừa, cách cơ quan chúng tôi hơn 2 cây số, ai nấy đều háo hức. Bởi, chúng tôi đều sinh ra và lớn lên ở nông thôn, không ai biết chiếu bóng là gì. Còn bởi phim ảnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn của miền Nam, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

Nhớ thương đồng đội

Năm 1978, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Như, ấp Láng Giài, xã Hoà Bình, khi ấy đang độ tuổi đôi mươi, thực hiện nhiệm vụ tại Sư đoàn 4 (Quân khu 9) chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng chiến đấu vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. “Ðồng đội tôi năm đó được 35 người, giữa chiến trường ác liệt, nhiều người đã ngã xuống ngay trên tay tôi. Ðến nay, đồng đội tôi chỉ còn lại 3 người”, bà Như rơm rớm nước mắt.

Lắng nghe lịch sử giữa trùng khơi

Hành trình “Biển đảo quê hương” với chủ đề “Theo dấu chân anh hùng - Tuổi trẻ sắt son niềm tin với Ðảng” của Tuổi trẻ tỉnh Cà Mau vừa qua đưa đoàn viên, thanh niên (ÐVTN) đến với Côn Ðảo (Thành phố Hồ Chí Minh), nơi mỗi phần mộ, mỗi câu chuyện đều gắn với những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

“Buổi phát thanh gởi về Nam”

Tháng 8/1959, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề do Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, bắn giết, bắt tù đày tất thảy những người chúng cho là "Việt cộng". Nghị quyết 15 của Trung ương nhằm chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam còn trong giai đoạn triển khai...

Phát huy khí thế thành đồng Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Tự hào với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" trong sự nghiệp bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ cách đây 81 năm, Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng hôm nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân Cà Mau quyết tâm hoàn thiện hạ tầng chiến lược, vận hành bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.

Những "bông hoa lửa"

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc từng hứng chịu bom đạn, ký ức về những nữ anh hùng dấn thân vì Tổ quốc vẫn còn hiện hữu qua nhiều câu chuyện được truyền lại.