Thứ bảy, 3-10-26 17:48:26
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Dấu hiệu mùa xuân

Báo Cà Mau Rạng sáng 1/5/1930, chưa đầy 100 ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên ngọn cây dương trước sân Đình Tân Hưng, bên bờ sông Rạch Rập (làng Tân Hưng), cách trung tâm đầu não của thực dân Pháp ở chợ Cà Mau hơn 2 km, báo hiệu mùa xuân độc lập, tự do của dân tộc bắt đầu.

Lá cờ Ðảng dài 2 m, rộng 1 m, dưới góc có khẩu hiệu “Diệt trừ Pháp tặc” và ghi tên “Ngọc - Ðức - Thế” (tên lót của 3 thanh niên treo cờ: Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Ðức Cao và Lương Thế Trân). Sáng ra, người dân quanh Ðình Tân Hưng và những người đi chợ đều trông thấy lá cờ ấy. Tại chợ Cà Mau, bà con sôi nổi bàn tán quốc sự. Bọn hương chức, lính làng bối rối, hốt hoảng, giở mọi trò để trấn an và sẵn sàng đàn áp.

Trong 3 người treo cờ ấy, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Lương Thế Trân như một huyền thoại. Lương Thế Trân sinh năm 1911, là con cả của ông Lương Xuân Quang và bà Nguyễn Thị Diệp ở rạch Cái Nhum, làng Tân Hưng. Cha ông là nhà giáo - người dân địa phương thường gọi là giáo Năm, có chí hướng cách mạng. Lớn lên, Lương Thế Trân lên Sài Gòn học tập, may mắn tiếp xúc với các nhà cách mạng như: Ung Văn Khiêm, Nguyễn Công Trung... đều là những người gắn bó với tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Trong phong trào học sinh, sinh viên lúc bấy giờ, ông bị mật thám, cảnh sát theo dõi, bắt rồi thả nhiều lần, ra vào khám quen mặt, đến mức thành danh với bọn chúng: “thằng Lương bất khuất”.

Sau khi treo cờ Ðảng ở Đình Tân Hưng không lâu, ông bị địch bắt và trải qua những ngày đêm bị đánh đập, hù doạ. Chàng thanh niên 19 tuổi, trước toà, nếu tự nhận mình bị xúi giục thì sẽ được thả, nhưng Lương Thế Trân dõng dạc trả lời: “Tôi có học, hành động của tôi có suy nghĩ, không phải làm việc trẻ con”. Ban đầu, chúng kêu án biệt giam ở Yệm (nơi giam tội nhân còn thiếu niên), nhưng sau đó đã chuyển án đày ra Côn Ðảo.

Di tích Ðình Tân Hưng, nơi treo cờ Ðảng Cộng sản Ðông Dương đầu tiên ở Cà Mau, đồng thời là nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Mặt trận Tân Hưng và Mặt trận chống Pháp. Ảnh: HUỲNH LÂM

Tại Côn Ðảo, qua chế độ lao tù tàn bạo, Lương Thế Trân càng rèn luyện ý chí gang thép, trau dồi lý luận cách mạng, hăng hái đấu tranh đòi cải thiện đời sống, chống đánh đập, hành hạ tù nhân. Trưởng thành từ ngục tù, Lương Thế Trân cùng một số chiến sĩ cách mạng trở về đất liền tiếp tục con đường cách mạng, đi sâu vào đời sống nông dân nghèo bị địa chủ bóc lột, những người bị địch bắt làm xâu trên con lộ Cà Mau - Năm Căn, đòi cung cấp đủ gạo, giảm giờ công, ngày làm xâu. Bằng trình độ học vấn, ông sáng tác nhiều bài văn vần dễ đọc, dễ nhớ để tuyên truyền, giác ngộ thanh niên. Ðến nay, có người còn nhớ những câu thơ: “Ðoàn ta là thanh niên xích vệ/ Chúng ta là vệ đội nghèo xơ/ Sinh ra trong lao lý khốn cùng/ Chúng ta quyết chiến đấu hy sinh...”.

Từ những hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng hiệu quả đến đấu tranh vì quyền lợi của người dân nghèo, uy tín và năng lực của Lương Thế Trân ngày càng được khẳng định, tạo tiền đề để ông được tổ chức tin tưởng giao phó những trọng trách quan trọng. Tháng 5/1940, Lương Thế Trân được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Bạc Liêu. Tháng 6/1940, theo lệnh cấp trên, ông đi công tác ở vùng Gò Ân - Nước Xoáy - Vũng Liêm để tiếp sức chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam Kỳ. Vì nhiều lý do, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940 không diễn ra đúng kế hoạch, Lương Thế Trân từ cù lao Năm Thôn (Tiền Giang) về căn cứ ở Trà Vinh thì bị địch bắt.

Lần nữa rơi vào tay kẻ thù, Lương Thế Trân bị chúng dùng mọi cực hình tra tấn đến bại liệt và áp giải về bót Bạc Liêu chờ ngày xét xử. Cùng lúc, địch cho lính đốt sạch nhà cửa, tài sản của gia đình ông. Không dừng lại ở đó, chúng bắt giải cả gia đình ông về bót, gồm cha ông và các em Lương Thế Châu, Lương Thế Phương, Lương Thế Hân. Không làm lung lay được ý chí của người cộng sản kiên trung, địch đày ông ra Côn Ðảo lần thứ hai với số tù 368.788.

Ba lần đứng trước toà án kẻ thù, Lương Thế Trân đều tỏ rõ khí phách người cộng sản, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Chuỗi năm tháng tù đày của ông cũng chính là quá trình tôi luyện bản lĩnh và lòng trung kiên theo cách mạng: ngày 2/8/1930, Toà án Bạc Liêu xử phạt 30 tháng tù về tội hành động nguy hại đến an ninh; ngày 23/6/1938, Toà thượng thẩm Sài Gòn tuyên phạt 3 tháng tù về tội gây cản trở đến tự do làm việc; ngày 13/8/1941, Toà án tỉnh Bạc Liêu xử phạt 5 năm tù và 10 năm cấm cư trú tại một số địa phương vì tội “phản nghịch”. Ông trở thành đối tượng bị địch đặc biệt dành cho các nhục hình tàn khốc, bỏ đói khát, ngủ lạnh... nhằm moi móc thông tin và uy hiếp tinh thần những tù nhân khác.

Ngọn lửa cách mạng trong tim Lương Thế Trân vẫn cháy sáng, nhưng trước chế độ nhà tù hà khắc, khốc liệt, sức khoẻ ông dần suy kiệt. Ông hy sinh tại Côn Ðảo ngày 21/8/1942 (có tài liệu ghi ngày 6/9/1941), phần mộ ở khu A - Nghĩa trang Hàng Dương. Cái chết hiên ngang, bất khuất của ông gây xúc động sâu sắc đối với các đồng chí bạn tù. Hai câu đối do ông Lê Tích Sang mang về trao tặng gia đình thể hiện niềm thương tiếc lẫn ngưỡng mộ: “Tuẫn tiết anh phong, bia sử lưu hương, thiên cổ tú / Trận vong liệt sĩ, lâu đài tạc tích, vạn niên xuân”.

Trong lần gặp vợ cuối cùng tại bót tỉnh lỵ Bạc Liêu trước khi bị đày ra Côn Ðảo, như linh cảm số phận của mình, Lương Thế Trân dặn dò: “Tôi chắc không về được nữa rồi. Mình ráng thay tôi nuôi nấng mấy đứa nhỏ nên người, nối chí ba nó; mình đừng làm điều gì tổn thương đến vinh dự gia đình”. Ghi nhớ lời ông dặn, bà nuôi dạy các con trưởng thành, tiếp nối con đường cách mạng, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Bà thanh thản ra đi ngày 17/12/1987.

Tân Hưng - vùng đất địa linh nhân kiệt, sản sinh những người con ưu tú như: Trần Văn Thời, Lương Thế Trân và nhiều chiến sĩ cách mạng tiền bối khác.

Bia kỷ niệm Mặt trận Tân Hưng. Ảnh: HUỲNH LÂM

Từ "dấu hiệu mùa xuân" ngày 1/5/1930 để 15 năm sau có cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời; để 45 năm sau có chiến thắng mùa xuân lịch sử năm 1975, giang sơn nối liền một dải; để 95 năm sau có một nước Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, ngày càng hùng cường, thịnh vượng./.

Nguyễn Thái Thuận

Nhớ thương đồng đội

Năm 1978, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Như, ấp Láng Giài, xã Hoà Bình, khi ấy đang độ tuổi đôi mươi, thực hiện nhiệm vụ tại Sư đoàn 4 (Quân khu 9) chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng chiến đấu vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. “Ðồng đội tôi năm đó được 35 người, giữa chiến trường ác liệt, nhiều người đã ngã xuống ngay trên tay tôi. Ðến nay, đồng đội tôi chỉ còn lại 3 người”, bà Như rơm rớm nước mắt.

Lắng nghe lịch sử giữa trùng khơi

Hành trình “Biển đảo quê hương” với chủ đề “Theo dấu chân anh hùng - Tuổi trẻ sắt son niềm tin với Ðảng” của Tuổi trẻ tỉnh Cà Mau vừa qua đưa đoàn viên, thanh niên (ÐVTN) đến với Côn Ðảo (Thành phố Hồ Chí Minh), nơi mỗi phần mộ, mỗi câu chuyện đều gắn với những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

“Buổi phát thanh gởi về Nam”

Tháng 8/1959, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề do Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, bắn giết, bắt tù đày tất thảy những người chúng cho là "Việt cộng". Nghị quyết 15 của Trung ương nhằm chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam còn trong giai đoạn triển khai...

Phát huy khí thế thành đồng Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Tự hào với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" trong sự nghiệp bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ cách đây 81 năm, Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng hôm nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân Cà Mau quyết tâm hoàn thiện hạ tầng chiến lược, vận hành bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.

Những "bông hoa lửa"

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc từng hứng chịu bom đạn, ký ức về những nữ anh hùng dấn thân vì Tổ quốc vẫn còn hiện hữu qua nhiều câu chuyện được truyền lại.

60 năm kiên trung dưới cờ Đảng

6 thập kỷ đứng trong hàng ngũ của Đảng, từng đi qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến ngày non sông thống nhất và hành trình đổi mới của quê hương, đất nước; hôm nay, khi mái đầu đã bạc, các đảng viên lão thành vẫn giữ trọn lời thề với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân.

Giữ lửa trong trái tim tuổi trẻ

Ðã 81 năm trôi qua, hào khí Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 luôn bất diệt trong mỗi trái tim người Việt Nam.