Thứ bảy, 15-8-26 15:06:17
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Dấu hiệu mùa xuân

Báo Cà Mau Rạng sáng 1/5/1930, chưa đầy 100 ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên ngọn cây dương trước sân Đình Tân Hưng, bên bờ sông Rạch Rập (làng Tân Hưng), cách trung tâm đầu não của thực dân Pháp ở chợ Cà Mau hơn 2 km, báo hiệu mùa xuân độc lập, tự do của dân tộc bắt đầu.

Lá cờ Ðảng dài 2 m, rộng 1 m, dưới góc có khẩu hiệu “Diệt trừ Pháp tặc” và ghi tên “Ngọc - Ðức - Thế” (tên lót của 3 thanh niên treo cờ: Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Ðức Cao và Lương Thế Trân). Sáng ra, người dân quanh Ðình Tân Hưng và những người đi chợ đều trông thấy lá cờ ấy. Tại chợ Cà Mau, bà con sôi nổi bàn tán quốc sự. Bọn hương chức, lính làng bối rối, hốt hoảng, giở mọi trò để trấn an và sẵn sàng đàn áp.

Trong 3 người treo cờ ấy, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Lương Thế Trân như một huyền thoại. Lương Thế Trân sinh năm 1911, là con cả của ông Lương Xuân Quang và bà Nguyễn Thị Diệp ở rạch Cái Nhum, làng Tân Hưng. Cha ông là nhà giáo - người dân địa phương thường gọi là giáo Năm, có chí hướng cách mạng. Lớn lên, Lương Thế Trân lên Sài Gòn học tập, may mắn tiếp xúc với các nhà cách mạng như: Ung Văn Khiêm, Nguyễn Công Trung... đều là những người gắn bó với tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Trong phong trào học sinh, sinh viên lúc bấy giờ, ông bị mật thám, cảnh sát theo dõi, bắt rồi thả nhiều lần, ra vào khám quen mặt, đến mức thành danh với bọn chúng: “thằng Lương bất khuất”.

Sau khi treo cờ Ðảng ở Đình Tân Hưng không lâu, ông bị địch bắt và trải qua những ngày đêm bị đánh đập, hù doạ. Chàng thanh niên 19 tuổi, trước toà, nếu tự nhận mình bị xúi giục thì sẽ được thả, nhưng Lương Thế Trân dõng dạc trả lời: “Tôi có học, hành động của tôi có suy nghĩ, không phải làm việc trẻ con”. Ban đầu, chúng kêu án biệt giam ở Yệm (nơi giam tội nhân còn thiếu niên), nhưng sau đó đã chuyển án đày ra Côn Ðảo.

Di tích Ðình Tân Hưng, nơi treo cờ Ðảng Cộng sản Ðông Dương đầu tiên ở Cà Mau, đồng thời là nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Mặt trận Tân Hưng và Mặt trận chống Pháp. Ảnh: HUỲNH LÂM

Tại Côn Ðảo, qua chế độ lao tù tàn bạo, Lương Thế Trân càng rèn luyện ý chí gang thép, trau dồi lý luận cách mạng, hăng hái đấu tranh đòi cải thiện đời sống, chống đánh đập, hành hạ tù nhân. Trưởng thành từ ngục tù, Lương Thế Trân cùng một số chiến sĩ cách mạng trở về đất liền tiếp tục con đường cách mạng, đi sâu vào đời sống nông dân nghèo bị địa chủ bóc lột, những người bị địch bắt làm xâu trên con lộ Cà Mau - Năm Căn, đòi cung cấp đủ gạo, giảm giờ công, ngày làm xâu. Bằng trình độ học vấn, ông sáng tác nhiều bài văn vần dễ đọc, dễ nhớ để tuyên truyền, giác ngộ thanh niên. Ðến nay, có người còn nhớ những câu thơ: “Ðoàn ta là thanh niên xích vệ/ Chúng ta là vệ đội nghèo xơ/ Sinh ra trong lao lý khốn cùng/ Chúng ta quyết chiến đấu hy sinh...”.

Từ những hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng hiệu quả đến đấu tranh vì quyền lợi của người dân nghèo, uy tín và năng lực của Lương Thế Trân ngày càng được khẳng định, tạo tiền đề để ông được tổ chức tin tưởng giao phó những trọng trách quan trọng. Tháng 5/1940, Lương Thế Trân được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Bạc Liêu. Tháng 6/1940, theo lệnh cấp trên, ông đi công tác ở vùng Gò Ân - Nước Xoáy - Vũng Liêm để tiếp sức chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam Kỳ. Vì nhiều lý do, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940 không diễn ra đúng kế hoạch, Lương Thế Trân từ cù lao Năm Thôn (Tiền Giang) về căn cứ ở Trà Vinh thì bị địch bắt.

Lần nữa rơi vào tay kẻ thù, Lương Thế Trân bị chúng dùng mọi cực hình tra tấn đến bại liệt và áp giải về bót Bạc Liêu chờ ngày xét xử. Cùng lúc, địch cho lính đốt sạch nhà cửa, tài sản của gia đình ông. Không dừng lại ở đó, chúng bắt giải cả gia đình ông về bót, gồm cha ông và các em Lương Thế Châu, Lương Thế Phương, Lương Thế Hân. Không làm lung lay được ý chí của người cộng sản kiên trung, địch đày ông ra Côn Ðảo lần thứ hai với số tù 368.788.

Ba lần đứng trước toà án kẻ thù, Lương Thế Trân đều tỏ rõ khí phách người cộng sản, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Chuỗi năm tháng tù đày của ông cũng chính là quá trình tôi luyện bản lĩnh và lòng trung kiên theo cách mạng: ngày 2/8/1930, Toà án Bạc Liêu xử phạt 30 tháng tù về tội hành động nguy hại đến an ninh; ngày 23/6/1938, Toà thượng thẩm Sài Gòn tuyên phạt 3 tháng tù về tội gây cản trở đến tự do làm việc; ngày 13/8/1941, Toà án tỉnh Bạc Liêu xử phạt 5 năm tù và 10 năm cấm cư trú tại một số địa phương vì tội “phản nghịch”. Ông trở thành đối tượng bị địch đặc biệt dành cho các nhục hình tàn khốc, bỏ đói khát, ngủ lạnh... nhằm moi móc thông tin và uy hiếp tinh thần những tù nhân khác.

Ngọn lửa cách mạng trong tim Lương Thế Trân vẫn cháy sáng, nhưng trước chế độ nhà tù hà khắc, khốc liệt, sức khoẻ ông dần suy kiệt. Ông hy sinh tại Côn Ðảo ngày 21/8/1942 (có tài liệu ghi ngày 6/9/1941), phần mộ ở khu A - Nghĩa trang Hàng Dương. Cái chết hiên ngang, bất khuất của ông gây xúc động sâu sắc đối với các đồng chí bạn tù. Hai câu đối do ông Lê Tích Sang mang về trao tặng gia đình thể hiện niềm thương tiếc lẫn ngưỡng mộ: “Tuẫn tiết anh phong, bia sử lưu hương, thiên cổ tú / Trận vong liệt sĩ, lâu đài tạc tích, vạn niên xuân”.

Trong lần gặp vợ cuối cùng tại bót tỉnh lỵ Bạc Liêu trước khi bị đày ra Côn Ðảo, như linh cảm số phận của mình, Lương Thế Trân dặn dò: “Tôi chắc không về được nữa rồi. Mình ráng thay tôi nuôi nấng mấy đứa nhỏ nên người, nối chí ba nó; mình đừng làm điều gì tổn thương đến vinh dự gia đình”. Ghi nhớ lời ông dặn, bà nuôi dạy các con trưởng thành, tiếp nối con đường cách mạng, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Bà thanh thản ra đi ngày 17/12/1987.

Tân Hưng - vùng đất địa linh nhân kiệt, sản sinh những người con ưu tú như: Trần Văn Thời, Lương Thế Trân và nhiều chiến sĩ cách mạng tiền bối khác.

Bia kỷ niệm Mặt trận Tân Hưng. Ảnh: HUỲNH LÂM

Từ "dấu hiệu mùa xuân" ngày 1/5/1930 để 15 năm sau có cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời; để 45 năm sau có chiến thắng mùa xuân lịch sử năm 1975, giang sơn nối liền một dải; để 95 năm sau có một nước Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, ngày càng hùng cường, thịnh vượng./.

Nguyễn Thái Thuận

Bảy Háp - Dòng sông huyền thoại

Từ kênh xáng Ðội Cường kết nối với sông Gành Hào, cùng những nhánh rẽ, dòng Bảy Háp (hay còn có tên gọi là Bảy Hạp) chở nặng những hạt phù sa từ bờ Ðông sang bồi đắp bờ Tây, dựng lên những bãi bồi, gây rừng ngập mặn, cho đất thêm xanh, cho rừng lấn biển.

Ký ức “địa chỉ đỏ”

Từng công tác ở Văn phòng Tỉnh uỷ thời kháng chiến những năm 1960, tôi vinh dự được làm nhân chứng tháp tùng cùng Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lê Minh Sơn và một số cán bộ về lại Rẫy Mới - kênh Tư Mầu, phía sau sông Mỹ Bình để tìm nhà ông Lê Phương Hồng, nguyên cán bộ tôn giáo vận tỉnh trong thời chống Mỹ. Ðây là chuyến khảo sát địa chỉ đỏ cuối cùng ở xã Phong Lạc và Phong Ðiền (cũ).

Vẹn trọn đạo lý, vững bước tương lai

Những ngày tháng Bảy, mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc như lắng lại trong không khí thiêng liêng của dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; dòng chảy tri ân đang cuộn trào trên khắp quê hương Cà Mau, kết nối lịch sử hào hùng với khát vọng vươn mình của hôm nay.

Sức sống mới trên Đôn Bơ - Cựa Gà

Vùng quê cách mạng Đôn Bơ - Cựa Gà (ấp Thạnh Hưng 2, xã Vĩnh Mỹ) hôm nay đổi thay, khởi sắc từng ngày. Những dấu tích chiến tranh được gìn giữ, giáo dục truyến thống; những chính sách đền ơn đáp nghĩa được triển khai thiết thực, góp phần để vùng đất từng chịu nhiều mất mát trong chiến tranh vươn lên trong nhịp sống mới.

Nối dài mạch nguồn tri ân

Tháng Bảy về, khắp các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cà Mau lại rộn ràng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Mỗi món quà trao đi, mỗi lời thăm hỏi chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối mạch nguồn tri ân sâu sắc công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc.

Xây tượng nữ anh hùng Hồ Thị Kỷ: Bông sen lửa sáng mãi trên đất Cà Mau

Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Hồ Thị Kỷ (1949-1970) sinh ra tại ấp Cây Khô, xã Tân Lợi (nay là Xã Hồ Thị Kỷ). Hoạt động trong Ðội Biệt động thị xã Cà Mau, chị nổi tiếng với những chiến công lẫy lừng và sự hy sinh quả cảm ở tuổi 21, trở thành biểu tượng rực rỡ cho tinh thần cách mạng quật khởi của tuổi trẻ đất mũi.

Cha, con cùng ra trận

Kết thúc cuộc trường chinh 30 năm đánh giặc, ở mảnh đất có hình tượng như mũi con tàu, việc hai cha con cùng ra trận có lẽ không nhiều. Chính uỷ Trung đoàn 1, Quân khu 9, Vưu Hoà Thạnh (Tư Bằng) và con trai Vưu Minh Chiến là điển hình trong cuộc chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước đã để lại cho gia đình, đồng đội sự tiếc thương vô hạn.

Cà Mau truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và Huân chương Kháng chiến

Chiều 24/7, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và truy tặng Huân chương Kháng chiến cho các liệt sĩ có nhiều cống hiến trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026).

Viết tiếp trang sử quê hương từ hành trình tuổi trẻ

Những ngày Tháng 7, tại các địa chỉ đỏ, nghĩa trang liệt sĩ và gia đình chính sách trên địa bàn tỉnh Cà Mau luôn rộn ràng màu áo xanh tình nguyện. Với tuổi trẻ hôm nay, hoạt động tri ân không chỉ dừng ở những buổi dâng hương, dọn vệ sinh hay tặng quà, mà còn được cụ thể hoá bằng nhiều việc làm thiết thực như tổ chức "Bữa cơm tri ân", chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ... Qua đó góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quê hương.

Người còn lại

Ðứng trước công trình Bia tội ác Mỹ - nguỵ ở Bàu Hang - Tân Tiến, người cựu chiến binh lão thành tuổi 83 Nguyễn Văn Tòng (sinh năm 1943, quê ấp Tân Ðức A, xã Tân Ðức, huyện Ðầm Dơi cũ; nay là xã Tân Thuận) không thể nào quên ký ức cách đây 67 năm - ngày giặc gieo rắc tội ác kinh hoàng ngay tại nơi này.