Thứ ba, 18-8-26 23:05:31
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM SỰ KIỆN TẬP KẾT RA BẮC (1954-2024)

Bây giờ mới nói

Báo Cà Mau

Minh hoạ: Minh Tấn

Minh hoạ: Minh Tấn

- Anh Út (*), anh nhớ lực lượng nào tiếp quản khi đối phương giao khu tập kết cho ta?

- Một trung đội chủ lực của Tiểu đoàn 307, lấy từ Ðại đội 933 với cán bộ chỉ huy tiểu đoàn và tổ liên hợp. Tất cả được phân công ra tiếp quản thị trấn Cà Mau, Tắc Vân, Hộ Phòng, Giá Rai và Hoà Bình (trên Quốc lộ 4). Bên ta đều trẻ tuổi (từ 18-25) khoẻ mạnh, đẹp trai, múa hát hay...

- Ðồng bào vùng tạm chiếm bấy giờ đón ta thế nào?

- Khi chúng tôi tới cầu quay Cà Mau, nhiều người, phần đông là người già và trẻ em, tò mò đến, đứng xa xa xem Việt Minh có phải như Pháp và Bảo Ðại tuyên truyền “7 người đeo không gãy tàu lá đu đủ”. Bà con thấy anh em ta đẹp và vui quá, mặc đồng phục ka-ki vàng mới tinh.

- Quân phục của cơ quan nào cấp?

- Vải của quân trang. Còn công kỹ, thức suốt đêm, may cho anh em kịp mặc ra thành, là nhờ các má, các chị em ở Cái Nhúc.

- Thủ tục giao - nhận khu tập kết thế nào, anh Út?

- Một quan ba Pháp từ Bạc Liêu tới với mấy tên tuỳ tùng, quân phục và ga-lon nghiêm chỉnh. Ðối phương cùng chúng tôi bắt tay xã giao, phiên dịch làm việc trôi chảy sau lời chào hỏi khá lịch sự. Rồi họ đưa ta lại từng công sở giao - nhận sổ sách ký tên đóng dấu. Cờ tam tài kéo xuống, cờ đỏ sao vàng kéo lên khi chiến sĩ ta bồng súng chào. Cờ ta tung bay trước gió, thắm tươi, vẫy gọi mọi người. Ta đi tới đâu, nhà nhà mở cửa chào đón tới đó. Không rõ cờ Tổ quốc được chuẩn bị bao giờ, được treo lên trên nóc, trên cửa sổ mỗi nhà như mọc từ lòng yêu nước, tràn ngập các khu phố, bến tàu, nhà lồng chợ và tiệm quán... Hôm đó là ngày 1/8/1954, 9 giờ sáng.

- Thưa anh, lúc nào ta mới rước bộ đội và đồng bào ra chợ?

- Ðúng 11 giờ ngày 21/8/1954, quân dân ta từ năm ngã sông đổ ra Cà Mau... Người, băng cờ, khẩu hiệu, ống loa... rợp trời thị trấn Cà Mau và nhiều nơi khác trong khu vực quy định tập kết. Tôi không nhớ hết và không nói hết cảm xúc trào dâng của mình bấy giờ. Mỗi ánh mắt, mỗi lời tung hô hoà bình, chúc thọ Bác... đều góp phần tạo nên một bức tranh hoành tráng một không khí khác thường, mình thấy như trời đất rộng lớn hơn.

- Giao xong, đối phương làm gì tiếp theo?

- Ba sĩ quan Pháp và trung đội bảo hoàng co ro trên xe chạy về Bạc Liêu, chúng bị mọi người quên lãng như không hề có mặt. Khi đó, cán bộ và chiến sĩ ta đến đâu quần chúng vây quanh hỏi han trò chuyện, xin bài ca. Rồi sau đó, chúng tôi được điều về Ðội Cảnh vệ Bộ Tư lệnh miền Tây, ra Phụng Hiệp bảo vệ đồng chí Phạm Hùng, Trưởng ban Liên hợp Nam Bộ.

- Thời điểm tập kết, anh Út có chuyện gì đáng nhớ nhất?

- Có. Ðó là chuyến tàu thứ hai, trung đội tôi được lệnh đi công tác Vũng Tàu, lên tàu Strasvobol (của Liên Xô), nhiệm vụ của chúng tôi là đón đoàn cán bộ y tế từ miền Bắc vô, gồm 9 đồng chí, trong đó có một bác sĩ người cao, da đen: “Bác sĩ Lê Ba”. Ông này rất bí mật. Khi xuống tàu LCM một ngày đêm về Chắc Băng, ít giao tiếp với ai. Ba người ngồi kế ông là cảnh vệ chúng tôi, bí mật che chắn không cho các nhà báo nước ngoài tiếp cận ông phỏng vấn. Khi về đến doanh trại ta ở Chắc Băng, các anh chỉ huy ra mừng đón, chúng tôi mới vỡ lẽ “Bác sĩ Lê Ba” chính là đồng chí Lê Duẩn của chúng ta!

Ðồng chí Lê Duẩn về Chắc Băng, chủ trì hội nghị đầu tiên của Xứ uỷ Nam Bộ, chỉ đạo cuộc tập kết lịch sử. Ðồng chí được hội nghị cử làm Bí thư Xứ uỷ. Sau chuyến tàu thứ ba, đồng chí Lê Duẩn cùng Xứ uỷ chỉ đạo nên chuyển quân xuống bến sông Ông Ðốc tiện hơn cho ta (để ta chuyển súng đạn từ Bắc vào Nam, rút cán bộ vừa lên tàu trở xuống, ở lại chiến đấu... thuận lợi hơn những bến khác).

Còn phía Pháp, họ sợ tuyến Cần Thơ - Vũng Tàu, lúc xuyên qua tuyến sông và kênh xáng liên tỉnh, đồng bào ra tận tàu chào mừng và tiễn đưa bộ đội ta, nên họ cũng đồng ý với đề nghị của ta chọn bến sông Ông Ðốc tàu cập bến rước quân tập kết.

-  Thủ tục kiểm soát thế nào, anh Út còn nhớ không?

-  Mình xuống tàu thì đối phương cùng Uỷ ban Liên hợp kiểm soát, có Uỷ hội Quốc tế giám sát. Chúng nó quay phim, chụp hình và đếm quân số, vũ khí của ta đưa xuống tàu là bao nhiêu. Khi xuống bến sông Ông Ðốc, chúng làm việc này khó hơn tuyến sông Cần Thơ, vì bờ biển quá rộng.

-  Những cán bộ ngoài Bắc đưa vào Nam, đều học cách ăn mặc và sinh hoạt theo Nam Bộ. Có đồng chí được tập huấn ngắn ngày từ Liên Xô mới về nước, có lịnh đi vào Nam ngay. Chúng tôi, tổ cảnh vệ phải đưa các anh chị này ra Cà Mau, Giá Rai... cho quen giao tiếp, rồi nhận nghị quyết đi các tỉnh hoặc Sài Gòn. Mỗi đồng chí trong đoàn cán bộ này đều có thể họ đạo Thiên Chúa ở Bùi Chu, hoặc nơi nào đó ở miền Bắc, đi cử vào Nam, tiền bạc mang theo đủ sống 6 tháng để thâm nhập vào miền Nam. Các anh chị học cao, trẻ đẹp (tuổi từ 25-30) hoàn toàn bỡ ngỡ với miền Nam, nên phải học thuộc tín hiệu (**). Anh Nguyễn Xuyến, Tham mưu phó Quân khu 9, giao nhiệm vụ xong, điều số cán bộ chi viện này đi các tỉnh Nam Bộ... chỉ còn 2 người ở lại thị tứ sông Ông Ðốc để mở trường dạy học (sửa doanh trại dừng quân của ta lúc tập kết làm trường tiểu học đầu tiên ở thị tứ sông Ông Ðốc).

- Theo anh Út nhớ, chuyến tàu cuối cùng của ta xuất phát thế nào?

- Ðồng chí Nguyễn Chánh, Tham mưu trưởng Quân khu miền Tây, Trưởng ban Liên lạc khu tập kết 200 ngày, ra sân lễ đọc lời tạm biệt đồng bào. Anh cảm động đọc không được, anh Nguyễn Văn Tiên, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 307, bấy giờ là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, đứng ra đọc tiếp, hứa với đồng bào 2 năm trở về, lại cũng xúc động đọc đứt quãng. Hai chiến sĩ cảnh vệ kéo cờ ta xuống để xếp lại mang đi. Mấy hàng chiến sĩ bồng súng dàn chào như tượng thần, lặng lẽ. Chúng tôi cùng đồng bào mặc niệm vong linh các chiến sĩ anh hùng và đồng bào tử nạn vì chiến tranh. Ðồng bào hai bên chợ im lặng nhìn cảnh quân dân ly biệt. Các chị bưng nước hột é và si rô cho bộ đội uống...

Ðúng 18 giờ ngày 10/2/1955, tiếng loa phát thanh từ tàu Ba Lan vang lên, chào tạm biệt đồng bào miền Nam, chào quê hương kiên cường chiến đấu cho ngày thống nhất 2 miền. Tất cả im lặng nhìn lên bờ trong 2 phút theo lệnh đồng chí Nguyễn Văn Tiên. Tàu kéo còi 3 hồi dài rồi phát máy, rung rung chuyển mình vượt sóng ra hướng Bắc...

(*) Thiếu tá Lâm Phú Hữu, hội viên Hội Cựu chiến binh tỉnh Cà Mau.

(**) Tín hiệu mật giao của Ban Tổ chức Trung ương. Nhờ tín hiệu, khi ổn định chỗ ở, người mới tới mới được liên hệ cơ sở cách mạng, nối sinh hoạt.

 

Nguyễn Bá

 

Ký ức những ngày tháng Tám

Hơn 8 thập kỷ đã trôi qua kể từ mùa thu lịch sử năm 1945, những người từng trực tiếp tham gia Cách mạng Tháng Tám nay phần lớn đã ở tuổi xưa nay hiếm. Ký ức có thể phai theo năm tháng, nhưng với ông Trần Quang Thiều, cán bộ tiền khởi nghĩa đang sinh sống tại phường Bạc Liêu, khí thế những ngày tháng sục sôi của mùa thu năm ấy vẫn hiện lên rõ nét qua từng câu chuyện.

Bảy Háp - Dòng sông huyền thoại

Từ kênh xáng Ðội Cường kết nối với sông Gành Hào, cùng những nhánh rẽ, dòng Bảy Háp (hay còn có tên gọi là Bảy Hạp) chở nặng những hạt phù sa từ bờ Ðông sang bồi đắp bờ Tây, dựng lên những bãi bồi, gây rừng ngập mặn, cho đất thêm xanh, cho rừng lấn biển.

Ký ức “địa chỉ đỏ”

Từng công tác ở Văn phòng Tỉnh uỷ thời kháng chiến những năm 1960, tôi vinh dự được làm nhân chứng tháp tùng cùng Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lê Minh Sơn và một số cán bộ về lại Rẫy Mới - kênh Tư Mầu, phía sau sông Mỹ Bình để tìm nhà ông Lê Phương Hồng, nguyên cán bộ tôn giáo vận tỉnh trong thời chống Mỹ. Ðây là chuyến khảo sát địa chỉ đỏ cuối cùng ở xã Phong Lạc và Phong Ðiền (cũ).

Vẹn trọn đạo lý, vững bước tương lai

Những ngày tháng Bảy, mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc như lắng lại trong không khí thiêng liêng của dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; dòng chảy tri ân đang cuộn trào trên khắp quê hương Cà Mau, kết nối lịch sử hào hùng với khát vọng vươn mình của hôm nay.

Sức sống mới trên Đôn Bơ - Cựa Gà

Vùng quê cách mạng Đôn Bơ - Cựa Gà (ấp Thạnh Hưng 2, xã Vĩnh Mỹ) hôm nay đổi thay, khởi sắc từng ngày. Những dấu tích chiến tranh được gìn giữ, giáo dục truyến thống; những chính sách đền ơn đáp nghĩa được triển khai thiết thực, góp phần để vùng đất từng chịu nhiều mất mát trong chiến tranh vươn lên trong nhịp sống mới.

Nối dài mạch nguồn tri ân

Tháng Bảy về, khắp các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cà Mau lại rộn ràng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Mỗi món quà trao đi, mỗi lời thăm hỏi chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối mạch nguồn tri ân sâu sắc công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc.

Xây tượng nữ anh hùng Hồ Thị Kỷ: Bông sen lửa sáng mãi trên đất Cà Mau

Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Hồ Thị Kỷ (1949-1970) sinh ra tại ấp Cây Khô, xã Tân Lợi (nay là Xã Hồ Thị Kỷ). Hoạt động trong Ðội Biệt động thị xã Cà Mau, chị nổi tiếng với những chiến công lẫy lừng và sự hy sinh quả cảm ở tuổi 21, trở thành biểu tượng rực rỡ cho tinh thần cách mạng quật khởi của tuổi trẻ đất mũi.

Cha, con cùng ra trận

Kết thúc cuộc trường chinh 30 năm đánh giặc, ở mảnh đất có hình tượng như mũi con tàu, việc hai cha con cùng ra trận có lẽ không nhiều. Chính uỷ Trung đoàn 1, Quân khu 9, Vưu Hoà Thạnh (Tư Bằng) và con trai Vưu Minh Chiến là điển hình trong cuộc chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước đã để lại cho gia đình, đồng đội sự tiếc thương vô hạn.

Cà Mau truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và Huân chương Kháng chiến

Chiều 24/7, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và truy tặng Huân chương Kháng chiến cho các liệt sĩ có nhiều cống hiến trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026).

Viết tiếp trang sử quê hương từ hành trình tuổi trẻ

Những ngày Tháng 7, tại các địa chỉ đỏ, nghĩa trang liệt sĩ và gia đình chính sách trên địa bàn tỉnh Cà Mau luôn rộn ràng màu áo xanh tình nguyện. Với tuổi trẻ hôm nay, hoạt động tri ân không chỉ dừng ở những buổi dâng hương, dọn vệ sinh hay tặng quà, mà còn được cụ thể hoá bằng nhiều việc làm thiết thực như tổ chức "Bữa cơm tri ân", chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ... Qua đó góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quê hương.