Giữa năm 1959, cách mạng miền Nam nói chung, địa bàn huyện Ngọc Hiển nói riêng, phải đương đầu với những khó khăn chồng chất. Luật 10/59 của chính quyền Ngô Ðình Diệm do Mỹ dựng lên đã tổ chức các chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng", tiến hành càn quét, đánh phá liên miên; bọn tề điệp, ác ôn ngóc đầu dậy, nhất là tổ chức tự vệ hương thôn, trước họng súng và trong cửa nhà tù của chúng, những người dân lương thiện, bất cứ ai cũng đều có thể bị chúng quy là Việt cộng.
Trước sự càn quét, đánh phá ấy, cơ quan Huyện uỷ Tư Kháng (bí danh huyện Ngọc Hiển) phải chuyển đến cụm rừng Cái Nháp, bên kia xóm Rẫy Mới. Ngày nào ăn ở trong dân, nay lại phải tự lo. Cứ 5-7 ngày thì về Kinh Năm ngọn xin mớ gạo và các thứ thiết yếu khác; 5-7 ngày sau chèo xuồng về xóm Vườn Tre, ngọn kinh Ông Ðơn, Cống Bộng... Cứ vậy mà tồn tại. Tất nhiên các hoạt động trên đều phải vào ban đêm.
Một đêm, tôi và chị Bảy Châu đi về phía lung Trùm Mạnh, một xóm nằm kẹp giữa hậu Kinh Năm và Rẫy Mới để xin gạo và nhu yếu phẩm. Nơi đây có gia đình má Tư - mẹ chồng chị Bảy, nên tiện dịp chị ghé thăm nhà. Anh Sáu Quốc - chồng chị bị địch bắt đày ra Côn Ðảo đã mấy năm. Má Tư vừa trò chuyện với con dâu, vừa tất bật xúc cho mấy chục lon gạo, lấy keo muối, gáo mắm để sẵn. Tôi qua cầu khỉ bên kia rạch đến nhà bác Cả Hải, thím Hai xin thêm các thứ khác, đủ nặng cho 2 chị em mang về. Không như các địa bàn khác, ở lung Trùm Mạnh vẫn đỏ đèn khi có cán bộ về, nhà này sang nhà kia không phải dè chừng bọn chỉ điểm.
Tháng 10, lúa nở bụi lớn, thỉnh thoảng có đợt gió mùa Ðông Bắc tràn về se lạnh. Số ngày mưa không nhiều, nhưng mỗi lần mưa, nước như nhiều và lạnh hơn, dân gian thường nói "mưa như trút nước" chính là thời điểm này. Tôi quàng túi gạo hơn 10 kg, chị Bảy thì mang các thứ khác. Vừa ra khỏi mé vườn, trong tai đã văng vẳng tiếng trống bập bùng phía Kinh Ba, sực nhớ những ngày này là lễ Sene Dolta của đồng bào Khmer. Phía chân trời, đám mây đen kịch trông rất gần, trời tối dần. Với tư thế đội mưa, tấm ni lông dành che túi gạo, chúng tôi lần theo đường cũ mà đi.
Minh hoạ: Minh Tấn
Rồi cơn dông ào ào ập tới, sau đó mưa bắt đầu trút xuống, rát cả mặt. Trong màn đêm, chỉ thấy những bụi lúa bị gió đẩy rạp cả ngọn. Gió càng nhẹ, hạt mưa càng dày, nước xối xả, đưa tay vuốt nước mà đi. Không có gì để che chắn, cái lạnh của đêm tháng 10 thấm dần, phía trước là màu trắng đục, tầm mắt chỉ quan sát được vài mét.
Nhớ trong chuyến đi, con đường này đi mất hơn 1 tiếng là tới nơi, chủ yếu đi theo bờ mẫu nhỏ, có đoạn nước ngập bàn chân. Hết bờ dọc đến bờ ngang, có đoạn bà con mới phát cỏ rất dễ đi, có đoạn ngọn cỏ cao đến đầu gối. Vậy mà lúc về, chúng tôi đã bỏ bờ mẫu lúc nào không hay, đôi chân có dấu hiệu lệch nhịp. Ý nghĩ bị lạc khiến chúng tôi bối rối. Nhớ ngày lạc ở rừng Cái Nháp, nhắc tôi phải bình tĩnh, chỉ cố gắng chịu lạnh, bốn bề đều có dân chứ không như trong rừng. Chỉ tội chị Bảy, mưa lạnh thế này e chị chịu không quen.
Như cuối đường hầm gặp được ánh sáng, trong màn mưa đục, trước mặt chúng tôi xuất hiện ánh đèn le lói. Mừng quá, chị em tôi cố quan sát động tĩnh, lần tới, thì đây là cái am thờ Phật của người dân dựng lên nằm ở ngọn lung Trùm Mạnh, trước đó có lần tôi biết nơi này. Chủ am là người phụ nữ khoảng 50 tuổi, búi tóc, mặc bộ đồ bà ba màu xám tro, có giọng nói từ tốn.
Thời này, trong hiểu biết của dân, không phải bên quốc gia là Việt cộng, bộ dạng của chị em tôi hẳn không phải là quốc gia và kẻ trộm cắp. Ðặt túi gạo xuống bộ vạc, trên vai được trút đi gánh nặng, bếp củi người chủ am mới nhen đã bắt lửa. Là con trai, tôi cởi áo, quần dài ra vắt khô rồi mặc vào, sà vào bếp lửa, lại còn được uống cả ca nước nóng, cơ thể ấm lên rất nhanh, thương chị Bảy vẫn bộ đồ ướt sũng.
Bên ngoài mưa đã tạnh, trời lộ dần những vì sao mờ ảo, chúng tôi cảm ơn và từ giã người chủ am tốt bụng. Hướng đi đã rõ, chỉ một mạch là tới nơi. Thì ra, chúng tôi đã luẩn quẩn trong đám lúa suốt mấy mươi phút, tàn cả cơn mưa, cách lối đi cũ chỉ khoảng chục công đất. Túi gạo và thức ăn chúng tôi mang về vẫn nguyên vẹn. Thành quả này góp vào thùng gạo và thức ăn cho mấy anh em cơ quan no bụng, tiếp tục chiến đấu với kẻ thù.
Khi nhắc lại kỷ niệm đêm mưa tháng 10 cách nay 67 năm thì chị Bảy đã mang nụ cười đi khắp thế gian. Cũng nên nhắc chị Bảy Châu (Bảy Kiệu) là thành viên ban chỉ đạo cuộc đấu tranh trực diện ở Chi khu Ðầm Dơi ngày 23/10/1961 - cuộc đấu tranh chính trị có quy mô lớn và bị đàn áp dã man nhất ở địa bàn tỉnh Cà Mau trong những năm chống Mỹ cứu nước.
Hoài An

Truyền hình



Xem thêm bình luận