Thứ sáu, 21-8-26 05:53:56
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Dì tôi - Người đàn bà đi qua hai cuộc kháng chiến

Báo Cà Mau Trước đây không lâu, Báo Cà Mau có đăng bài viết về chuyện bà Hai Ðầm tham gia trận diệt đồn Tân Bằng năm 1946. Trong trận đánh táo bạo này, bà được Chi bộ Thới Bình cài vào đồn giặc Pháp làm nội gián để cùng bộ đội ta thực hiện phương án “nội công ngoại kích”. Bài viết theo lời kể của ông Huỳnh Văn Tứ ở thị trấn Thới Bình, người cùng thế hệ và có mối quan hệ thân tộc với bà Hai Ðầm.

Minh hoạ: LÝ KIỀU LOAN

Minh hoạ: LÝ KIỀU LOAN

Ông Tứ cũng cho biết là giai đoạn sau này, thời kháng chiến chống Mỹ, ông không rõ tin tức của bà Hai Ðầm. Vì vậy, với những thông tin tôi biết, cùng với khoảng thời gian tôi sống cùng gia đình bà, bài viết này, tôi xin được kể tiếp câu chuyện về bà Hai Ðầm trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất.

Tôi gọi bà Hai Ðầm bằng dì Hai. Tên họ đầy đủ của dì là Trịnh Thị Hai. Dì thứ hai, còn má tôi là em kế của dì. Dì Hai sinh năm 1926, nghĩa là khi tham gia trận đánh đồn Tân Bằng, dì đang độ tuổi hai mươi thời con gái. Trong ba người con của ngoại, dì Hai là người gan lì nhất, lanh lợi nhất, nhưng gương mặt có nét duyên thầm. Không biết có phải vì dì mang nét duyên ấy không, mà cuộc đời dì là những chặng đường tình duyên trắc trở, qua mấy lần đò...

Sau này khi tôi lớn lên, được ông bà tôi, thỉnh thoảng chính dì cũng kể lại cho tôi nghe về trận đánh đồn Tân Bằng hồi đó. Theo dì, thời kháng chiến chống Pháp, những người ở tuổi thanh xuân như dì, đâu kể nam hay nữ, tham gia chống giặc ngoại xâm là lẽ đương nhiên và rất đỗi bình thường. Do đó, sự háo hức và lòng quyết tâm được trực tiếp tham gia vào trận đánh để giết giặc, xua tan nỗi lo và sự hồi hộp, dù với nhiệm vụ được giao, dì không được trang bị loại vũ khí nào trong tay. Chỉ có loại vũ khí duy nhất nhưng không kém phần lợi hại, là bằng sắc đẹp con gái tuổi đôi mươi của dì, làm cho giặc không chú ý đề phòng, lơ là, mất cảnh giác. Sau trận đánh đồn Tân Bằng, dì vẫn tiếp tục tham gia công tác ở địa phương trong kháng chiến chống Pháp và mang bí danh “Hai Ðầm” từ đó.

Vừa qua cuộc kháng chiến chống Pháp rồi lại đến kháng chiến chống Mỹ. Khi tôi lớn lên, bom đạn chiến tranh đã lan đến vùng ven thị trấn. Gia đình tôi và gia đình dì Hai cùng về nương tựa trong ngôi nhà của ngoại ở Rạch Ông, thị trấn Thới Bình. Thời gian này, tôi biết dì vẫn tham gia hoạt động cách mạng. Không lâu sau, con trai của dì với người chồng đầu tiên, thoát ly làm du kích và hy sinh trong lần bị giặc phục kích khi đột nhập ấp chiến lược. Tôi còn nhớ anh là anh Hai Trực, bí danh Hai Phú.

Một thời gian sau, dì sống với ông Chín, người chồng kế tiếp của dì. Hằng ngày, dì Hai cùng bà con trong xóm bơi xuồng vô rừng các con kinh số 1, số 2... bên kia Sông Trẹm để đốn củi, rồi về cưa, chẻ, bó thành từng bó để chở ra chợ Thới Bình bán.

Những chuyến đi rừng của dì đồng thời cũng là làm nhiệm vụ của đường dây liên lạc với cách mạng. Khi đi mang theo đạn dược hoặc thuốc men, nhu yếu phẩm do đường dây từ ngoài thị trấn tiếp tế cho chiến khu; khi về xuồng chở đầy cây tràm, còn dì mang theo những chỉ thị từ chiến khu về truyền đạt nhiệm vụ cho cơ sở nội thành, có khi còn mang cả tài liệu.

Chính quyền Việt Nam Cộng hoà khi ấy biết dì là “Việt cộng nằm vùng”, nhưng dì vốn lanh lợi, thông minh, biết ứng phó với mọi tình huống, nên dù chúng ráo riết theo dõi để bắt, hòng lần ra cả đường dây hoạt động, nhưng không tìm được bằng chứng.

Vào khoảng năm 1971, giai đoạn Mỹ và quân đội Sài Gòn mở Chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh”, làm hoạt động tiếp tế của ta rất khó khăn. Chúng theo dõi và tổ chức bắt bớ những người nghi ngờ trong đường dây hoạt động bí mật ở vùng bị chiếm đóng.

Năm ấy, dì Hai bị giặc bắt và giam giữ mấy tháng trời. Dù bị giam cầm, tra trấn nhưng dì không khai và cũng không có chứng cứ nên cuối cùng cũng được thả. Lúc dì bị bắt là khi đang mang thai, rồi sinh nở ở trong tù. Ðó là người con gái út của dì, dì đặt tên là Hận - Tuyết Hận.

Khi ra tù, biết khó có thể tham gia hoạt động cách mạng ở quê nhà, nên cả gia đình dì âm thầm rời khỏi Thới Bình. Bà con không rõ tin tức của gia đình dì Hai từ đó. Mãi cho đến ngày giải phóng, chiến tranh kết thúc, dì mới có dịp trở về thăm quê... Lúc đó, mọi người mới biết là khoảng thời gian ấy gia đình dì lên Ðịnh Quán ở, tại thị trấn cây số 125, vừa buôn bán để sinh sống và cũng để tìm cách liên lạc, kết nối với cơ sở cách mạng, tiếp tục hoạt động.

Năm sau, chồng mất, dì dắt mấy người con vô tận vùng giải phóng Gia Canh sinh sống và tham gia cách mạng cho đến ngày giải phóng. Khi lên vùng đất này, không ai biết dì là bà Hai Ðầm với trận đánh đồn Tân Bằng thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mà nhiều người biết dì với tên gọi là “bà Chín” hoặc “má Chín”.

Vùng Gia Canh cách thị trấn Ðịnh Quán hơn 10 km. Ðường vào Gia Canh chủ yếu là lội bộ. Bắt đầu từ Phú Hoa (cây số 115) qua khu vực đất rẫy của người Hoa Nùng chừng hai cây số, sau đó đi theo đường be sình lầy gần chục cây số nữa. Gia Canh khi ấy là cánh đồng khoảng trên dưới 100 ha, chung quanh bao bọc bởi rừng già. Dưới tán rừng rải rác những ngôi nhà nhỏ đơn sơ, lợp bằng lá trung quân, vách bằng tre nứa của hàng trăm hộ dân trong vùng. Cánh đồng là nơi trồng lúa vào mùa mưa. Ði sâu vào rừng, hướng giáp Bình Thuận là căn cứ của bộ đội và các cơ quan tỉnh, huyện. Dì Hai tôi sống mấy năm ở vùng đất Gia Canh này.

Vào thời gian đó, ba đứa con trai sau này của dì đều lần lượt vào bộ đội, trong đó, có người chung đơn vị với Ðại tá, Nhà văn Chu Lai... Dì hoạt động trong đường dây hậu cần của Tỉnh đội Tân Phú - thời gian từ năm 1973-1976, huyện Ðịnh Quán thuộc tỉnh Tân Phú, do Trung ương cục miền Nam thành lập. Theo những nhu cầu thuốc men, nhu yếu phẩm của bộ đội và các cơ quan trong chiến khu mà dì liên hệ với những người thợ rừng đi khai thác gỗ chuyển vào. Dì được coi như “người nhà” của cơ quan Tỉnh đội, cả trong thời chiến tranh và khi mới vừa giải phóng. Dì đi dâu cũng vậy, bộ đội hay cán bộ ở huyện thường gọi dì là “má Chín” hoặc “bà Chín”. Có những người con nuôi của dì là cán bộ của Huyện đội, Tỉnh đội sau này trưởng thành, làm lãnh đạo của Tỉnh đội Ðồng Nai, như anh Ba Danh...

Sau ngày giải phóng, gia đình dì ra ở tại cây số 114, Quốc lộ 20, thuộc Ðịnh Quán. Nghe theo lời dì, tôi khăn gói từ quê nhà lên Ðịnh Quán, vào Gia Canh tiếp quản ngôi nhà lợp lá trung quân của dì và thửa ruộng gần 1 ha để làm anh nông dân thứ thiệt. Nhưng chưa xong một mùa lúa, trước yêu cầu dạy chữ cho trẻ em trong vùng kháng chiến cũ, dì nói với tôi là con có chút ít chữ nghĩa nên đi làm giáo viên dạy học cho tụi nhỏ ở đây. Trong chiến tranh, đám trẻ con đâu được học hành gì, nên chịu nhiều thiệt thòi... Vậy là tôi làm giáo viên, rồi sau tiếp tục chuyển các công việc khác. Tôi từ giã vùng đất Gia Canh chưa đầy hai năm tính từ ngày tôi đến. Sau này chuyển ra thị trấn Ðịnh Quán đi dạy, tôi vẫn tiếp tục ở tại nhà dì...

Về phần dì Hai, khi ra Quốc lộ 20, Ðịnh Quán một thời gian, được chính quyền địa phương giúp đỡ, dì làm đầu mối khai thác gỗ cho ngành lâm nghiệp của huyện. Ba người con của dì đi bộ đội, sau chiến tranh may mắn được an toàn trở về và lần lượt ra quân, bắt đầu công việc làm ăn lo cho cuộc sống gia đình.

Sau thời gian khai thác gỗ, dì cất được ngôi nhà gỗ. Cuộc sống tuổi về chiều của dì tưởng đã được an yên, dì có thể an hưởng tuổi già sau gần một đời gian lao, vất vả và cả những mất mát khi trải qua hai cuộc kháng chiến. Nhưng khi Nhà nước đóng cửa rừng, công việc khai thác gỗ cũng kết thúc. Gia đình dì lại chuyển chỗ ở để tìm đất làm rẫy sinh sống. Dì bán ngôi nhà gỗ rồi vào xã Phú Tân, cũng thuộc huyện Ðịnh Quán, cách thị trấn khoảng hơn chục cây số về phía sông Ðồng Nai, mua đất, cất ngôi nhà nhỏ và sinh sống bằng nghề làm rẫy. Mà làm rẫy thì cũng phải biết nghề, trong khi dì và bảy người con trong những năm sống ở vùng Ðịnh Quán này, lớn lên trai thì đi bộ đội, con gái thì chỉ biết làm việc nhà hoặc canh tác trên thửa ruộng ở cánh đồng Gia Canh cùng dì... Vì thế, làm rẫy trong thời gian đầu, gia đình dì cũng chỉ đủ sống qua ngày.

Rồi dì bị bệnh mất, hưởng thọ 66 tuổi. Những vất vả, gian truân trong phần lớn thời gian cuộc đời dì qua hai cuộc kháng chiến và những trận đòn trong nhà tù thời Việt Nam Cộng hoà đã để lại di chứng tổn hại sức khoẻ của dì.

Tôi có lên xã Phú Tân vài lần vào dịp giỗ dì. Nhìn ngôi mộ dì Hai nằm lẻ loi bên rìa đám rẫy, chung quanh rải rác những tảng đá ong mà không khỏi chạnh lòng. Vùng đất Ðịnh Quán này, từ lâu dì và thế hệ của những người con đã chọn làm quê hương...

 

Nguyễn Sông Trẹm

 

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.