Luật Cư trú quy định về quyền tự do cư trú của công dân; trình tự, thủ tục đăng ký, quản lý cư trú; quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú.
![]() |
Luật Cư trú cũng quy định cụ thể 9 nhóm hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8), để áp dụng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân, nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân được thực hiện nghiêm chỉnh, không bị gây phiền hà trong khi thực hiện việc đăng ký thường trú, tạm trú hoặc lưu trú. Đồng thời bảo đảm cho công tác quản lý cư trú đạt hiệu quả cao, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự. Đó là việc nghiêm cấm cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú; lạm dụng quy định về hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nhận hối lộ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà trong việc đăng ký, quản lý cư trú; thu, sử dụng lệ phí đăng ký cư trú trái với quy định của pháp luật; tự đặt ra thời gian, thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu trái với quy định của pháp luật hoặc làm sai lệch sổ sách, hồ sơ về cư trú; cố ý cấp hoặc từ chối cấp giấy tờ về cư trú trái với quy định của pháp luật; lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; thuê, cho thuê, làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác có liên quan đến cư trú; sử dụng giấy tờ giả về cư trú; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về cư trú; giả mạo điều kiện để được đăng ký thường trú; tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú; giải quyết cho đăng ký cư trú khi biết rõ người được cấp đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó; đồng ý cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó.
Chỗ ở hợp pháp là một trong những điều kiện cần thiết để công dân được đăng ký cư trú. So với những quy định trước đây về cư trú thì Luật Cư trú có nhiều điểm mới. Thứ nhất, quy định chỗ ở hợp pháp theo hướng rộng hơn, bao gồm “nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú”. Còn Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11 chỉ giới hạn là nhà ở và phương tiện. Thứ hai, nhà ở được coi là chỗ ở hợp pháp cũng được quy định rộng hơn, có thể là nhà thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Còn theo quy định tại Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11, thì không cho đăng ký thường trú đối với trường hợp nhà ở là do mượn, ở nhờ (trừ cán bộ, công chức được điều động, tuyển dụng đến làm việc ở thành phố, thị xã). Thực tế có nhiều trường hợp người đi thuê hoặc ở nhờ nhà của người khác nhưng lại có hành vi gây tranh chấp dân sự với chủ nhà (như đòi được chia nhà…) làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nhà, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự.
Để khắc phục tình trạng này, Điều 19 và 20 của Luật quy định: đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nhà của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản. Điều đó có nghĩa là, nếu chủ nhà không đồng ý cho người ở nhờ, thuê nhà, mượn nhà được đăng ký thường trú, thì không được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đăng ký thường trú.
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, việc giữ mô hình quản lý cư trú bằng việc cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú cho công dân vẫn cần thiết, nhằm góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; phục vụ các chính sách quan trọng khác. Việc giữ mô hình quản lý cư trú này với những quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện đơn giản, thuận lợi hơn, cùng với việc chấn chỉnh khâu tổ chức thực hiện sẽ góp phần bảo đảm cho công dân thực hiện quyền tự do cư trú. Đồng thời, vẫn giúp cho công tác quản lý của Nhà nước về cư trú được hiệu quả.
Kim Kim

Truyền hình








Xem thêm bình luận