Nghị định số 59/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về theo dõi tình hình thi hành pháp luật có 5 chương, 20 điều. Nghị định quy định cụ thể về nội dung theo dõi tình hình thi hành pháp luật, hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Tuy nhiên, sau hơn 1 năm đi vào cuộc sống, khái niệm theo dõi tình hình thi hành pháp luật vẫn còn quá mới mẻ đối với nhiều cơ quan, ban ngành; nhiều nơi gần như không có khái niệm về vấn đề này.
![]() |
| Tọa đàm Ngày Pháp luật Việt Nam tại Bạc Liêu năm 2013. Ảnh: Trần Sơn |
Theo quy định của Nghị định 59/2012/NĐ-CP, các cơ quan chuyên môn, công chức chuyên môn có thể căn cứ vào các quy định của nghị định để tham mưu, giúp UBND cấp huyện, cấp xã thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi địa phương. Qua đó khắc phục tình trạng các cơ quan chuyên môn cấp huyện, công chức chuyên môn cấp xã phải chờ UBND cấp tỉnh có văn bản hướng dẫn về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và đảm bảo tính thống nhất trong việc thực hiện công tác này trong phạm vi cả nước.
Không chỉ cán bộ, công chức Nhà nước, mà người dân, tổ chức, cá nhân cũng được trao quyền trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Nghị định thể hiện “huy động sự tham gia của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và nhân dân” là một trong năm nguyên tắc cơ bản trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Sự tham gia của tổ chức, cá nhân còn được cụ thể hóa ở nhiều điều, khoản trong nghị định. Chẳng hạn như quy định về “sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật”, về “thu thập thông tin về tình hình thi hành pháp luật”…
Bên cạnh đó, Nghị định 59/2012/NĐ-CP cũng quy định cụ thể hơn cách thức phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước (giữa các cơ quan trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, giữa các cơ quan thực hiện chức năng quản lý theo ngành - lĩnh vực cấp trên, và các cơ quan có thẩm quyền chung cấp dưới, giữa các cơ quan trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước và các cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát, HĐND); giữa cơ quan Nhà nước với các tổ chức, cá nhân (bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác có liên quan).
Có 3 nội dung theo dõi tình hình thi hành pháp luật, đó là tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết văn bản quy phạm pháp luật; tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật và tình hình tuân thủ pháp luật. Mỗi nội dung đều có 3 nhóm tiêu chí đánh giá cụ thể. Trong đó, tiêu chí “tính kịp thời, đầy đủ trong thi hành pháp luật của cơ quan Nhà nước và người có thẩm quyền” và tiêu chí “tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan Nhà nước và người có thẩm quyền” là các tiêu chí rất quan trọng để đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật của cơ quan Nhà nước. Qua đó nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc thi hành pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Về xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật, để kịp thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc và giải quyết các vấn đề bức xúc mà thực tiễn thi hành pháp luật đặt ra trong thi hành pháp luật, theo quy định của nghị định là: Ban hành kịp thời, đầy đủ các văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tập huấn, phổ biến pháp luật; bảo đảm về tổ chức, biên chế, kinh phí và các điều kiện khác cho thi hành pháp luật; kịp thời tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật đã có hiệu lực; thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật; sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện các biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
K.K

Truyền hình








Xem thêm bình luận