Thứ năm, 5-11-26 23:49:33
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

100 năm lò tương Bạc Liêu

Báo Cà Mau Gần một thế kỷ trôi qua, lò tương gia truyền ở phường Bạc Liêu vẫn âm thầm đỏ lửa. Những chiếc lu sành, hạt đậu nành và phương pháp lên men tự nhiên vẫn được gìn giữ, tạo nên hương vị đặc trưng gắn bó với nhiều thế hệ của người dân vùng đất này.

Nghề làm tương ở Bạc Liêu được cho là gắn với quá trình cộng đồng người Hoa đến khẩn hoang, khai phá cùng với người Kinh và người Khmer. Từ những gia đình làm tương phục vụ nhu cầu trong nhà, dần được truyền qua nhiều thế hệ khác, trở thành nét riêng trong văn hoá ẩm thực địa phương. Theo thời gian, với sự phát triển của thực phẩm ăn liền, nghề làm tương truyền thống ngày càng thu hẹp. Hiện phường Bạc Liêu chỉ còn khoảng 3 lò tương gia truyền duy trì hoạt động, gồm Trung Nguyên (đường Trần Phú), Thái Khén (trên đường đi Vĩnh Châu, phường 5 cũ) và Bính Nhiệm. Mỗi cơ sở có cách làm, câu chuyện riêng, nhưng điểm chung đều cố gắng giữ phương pháp sản xuất truyền thống.

Giữ nghề qua chiếc lu sành

Trong sân nhà bà Trần Thị Út, Khóm 13, hàng trăm chiếc lu, khạp được xếp ngay ngắn. Những chiếc lu sành ngả màu theo thời gian, bên trong từng chứa hàng trăm, hàng ngàn mẻ tương được ủ chín.

Bà Út là thế hệ thứ hai nối nghiệp gia đình lò tương Bính Nhiệm. Từ nhỏ, bà đã quen với mùi thơm của đậu nành hấp chín, những chiếc lu đón nắng mỗi ngày và công việc làm tương của cha. Nghề được cha bà truyền lại cho người chị thứ hai, sau đó đến bà là người con út.

Bà Trần Thị Út kể về câu chuyện lò tương 100 năm của gia đình.

Bà Trần Thị Út kể về câu chuyện lò tương 100 năm của gia đình.

Từ khi tiếp quản công việc gia đình, bà Út vừa làm, vừa truyền lại kinh nghiệm cho con cháu. Với bà, giữ nghề không đơn thuần là duy trì công việc kiếm sống mà còn là giữ lại một phần gia sản tinh thần mà cha ông để lại. Ðáng quý hơn, nghề làm tương của gia đình bà hiện đã được thế hệ con và cháu tiếp nối.

Một trong những giá trị đặc biệt của lò tương gia truyền là những chiếc lu sành đã sử dụng qua nhiều năm. Ngày nay, những chiếc lu sành có kích thước và chất lượng phù hợp với việc ủ tương truyền thống không còn dễ tìm. Vì vậy, mỗi chiếc lu còn nguyên vẹn được người làm nghề gìn giữ cẩn thận.

 Với bà Út, lu sành không chỉ là vật dụng chứa tương mà còn là một phần quan trọng của quy trình sản xuất. Sau khi đậu nành được lựa chọn, ngâm và hấp chín, đậu được cho vào lu, kết hợp với nước muối và trải qua quá trình lên men tự nhiên. Những chiếc lu được đưa ra phơi nắng, giúp quá trình lên men diễn ra thuận lợi. Một mẻ tương thường cần khoảng 45 ngày phơi đủ nắng, thậm chí lâu hơn nếu thời tiết ít nắng. Chính quá trình lên men chậm và tự nhiên này tạo nên độ mềm, màu sắc, mùi thơm và vị hậu ngọt đặc trưng của tương truyền thống.

Sản phẩm nước tương xì yếu được lắng lọc qua nhiều lần.

Sản phẩm nước tương xì yếu được lắng lọc qua nhiều lần.

Chờ nắng, chờ tương chín

Làm tương theo phương pháp truyền thống là công việc không thể vội. Mỗi ngày, người làm nghề phải theo dõi thời tiết, kiểm tra từng lu tương, bảo đảm sản phẩm được phơi nắng và lên men đúng cách. Từ những mẻ tương sau khi ủ, người thợ tiếp tục chế biến thành tương hột, tương xay và nước tương theo phương pháp truyền thống của người Hoa.

Nước tương được nấu nhiều giờ bằng lửa củi hoặc trấu. Ngọn lửa được duy trì đều để nước tương đạt màu nâu óng, vị đậm đà và mùi thơm đặc trưng. Có những loại nước tương ủ trong thời gian dài, thậm chí hơn 2 năm, để hương vị trở nên đậm đà hơn. Sản phẩm làm ra chủ yếu được bán cho khách quen. Nhiều người tìm đến không chỉ bởi hương vị mà còn vì sự tin tưởng đối với sản phẩm được làm thủ công, giữ nguyên những công đoạn truyền thống.

Bà Trần Thị Út giới thiệu sản phẩm với thuyết minh viên bảo tàng phường Bạc Liêu.

Bà Trần Thị Út giới thiệu sản phẩm với thuyết minh viên bảo tàng phường Bạc Liêu.

Lò tương của bà Trần Thị Út không hướng đến việc mở rộng quy mô. Bà vẫn giữ cách sản xuất và bán hàng như nhiều năm trước: làm tại nhà, bán lẻ cho khách quen. Với bà, gặp lại những người đã gắn bó với lò tương qua nhiều năm cũng là niềm vui trong công việc hằng ngày. Ðiều khiến bà vui hơn cả là nghề của gia đình đã có thế hệ sau tiếp nối.

Trong xã hội hiện đại, nghề làm tương không còn phổ biến như trước, nhưng có người giữ nghề, hương vị ấy vẫn còn cơ hội tồn tại. Bởi trong mỗi giọt tương không chỉ có vị mặn của muối, vị bùi của đậu nành mà còn có ký ức của những thế hệ người Bạc Liêu./.

Lê Thái - Anh Tuấn

Học tập kinh nghiệm triển khai hiệu quả Dự án DK1

Nhằm đánh giá hiệu quả các mô hình thực tiễn, đồng thời nghiên cứu khả năng vận dụng vào quá trình triển khai Dự án K1 giai đoạn 2026-2029, trong 2 ngày (3 và 4/11), đoàn công tác tỉnh Cà Mau đã tham quan, học tập kinh nghiệm tại phường Khánh Hoà, TP Cần Thơ.

Chế biến sâu và gắn với du lịch để nghề muối phát triển bền vững

Xác định mục tiêu duy trì 1.600 ha sản xuất và nâng sản lượng lên 76.000 tấn/năm vào năm 2030, tỉnh Cà Mau sẽ đẩy mạnh hiện đại hoá ngành muối theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Trọng tâm là hoàn thiện hạ tầng, ứng dụng công nghệ, chế biến sâu và gắn kết sản xuất với phát triển du lịch.

Khu vực dịch vụ: Tìm động lực tăng tốc cuối năm

9 tháng năm 2026, khu vực III (dịch vụ) đóng góp 36,1% GRDP toàn tỉnh Cà Mau, với mức tăng trưởng 8,35%. Dù các ngành thương mại, vận tải và du lịch của khu vực này chuyển biến tích cực, nhưng kết quả chung vẫn chưa đạt kịch bản đề ra. Mục tiêu quý IV đòi hỏi mức tăng trưởng 19,9%, vì vậy, việc tháo gỡ điểm nghẽn, khai thác hiệu quả tiềm năng của các ngành dịch vụ có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả tăng trưởng chung của tỉnh.

Chạm Đất Mũi, khám phá Cà Mau mùa Festival Tôm

Hưởng ứng chương trình kích cầu du lịch do tỉnh phát động, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ đang tích cực chuẩn bị chu đáo các điều kiện đón khách đến với Ngày Văn hoá Việt Nam và Festival Tôm Cà Mau lần thứ II năm 2026.

Cà Mau mở rộng kết nối, đưa thuỷ sản vào thị trường Trung Quốc

Trong khuôn khổ chuyến công tác tại Trung Quốc, Đoàn công tác tỉnh Cà Mau do đồng chí Lữ Quang Ngời, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, làm trưởng đoàn, cùng đồng chí Huỳnh Hữu Trí, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, lãnh đạo một số sở, ngành và doanh nghiệp thuỷ sản của tỉnh tham gia nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, khảo sát thị trường và kết nối doanh nghiệp.

Không làm sạch mã số thuế, doanh nghiệp đối mặt nhiều hệ luỵ

Từ việc ngừng kinh doanh nhưng không hoàn tất thủ tục thuế, nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thể phát sinh tiền phạt, tiền chậm nộp và gặp trở ngại khi muốn tiếp tục hoạt động hoặc thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan. Thuế tỉnh Cà Mau khuyến cáo người nộp thuế cần chủ động rà soát, xử lý tình trạng mã số thuế, tránh để những vướng mắc kéo dài gây nhiều hệ luỵ.

Festival Tôm Cà Mau lần thứ II năm 2026

Xúc tiến thương mại “chắp cánh” cho sản phẩm OCOP vươn xa

Từ những gian hàng hội chợ truyền thống đến các phiên kết nối giao thương quốc tế, hoạt động xúc tiến thương mại đang trở thành cầu nối giúp sản phẩm OCOP của tỉnh Cà Mau mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị và từng bước khẳng định vị thế của đặc sản địa phương trên thị trường trong nước và quốc tế.

Ngành nông nghiệp quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng

Ông Phạm Văn Mười, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), cho biết, những tháng cuối năm 2026, ngành tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, nhằm tạo dư địa tăng trưởng cho Khu vực I, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của tỉnh.

Tôm sú Cà Mau: Từ tán rừng ngập mặn vươn ra thế giới - Bài cuối: Mở lối cho con tôm đi xa

Với lợi thế vùng nuôi rộng lớn, hệ sinh thái đặc trưng, cùng năng lực chế biến, xuất khẩu ngày càng phát triển, Cà Mau có nhiều điều kiện đưa tôm sú vươn ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên chỉ trở thành sức cạnh tranh khi được chuyển hoá thành giá trị kinh tế thực chất. Muốn làm được điều đó, ngành tôm phải tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và bảo đảm người nuôi được hưởng lợi tương xứng với công sức, trách nhiệm gìn giữ hệ sinh thái.