Thứ bảy, 3-10-26 02:50:52
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975-30/4/2025)

50 năm - Nhớ giờ phút này!

Báo Cà Mau Thời điểm chuẩn bị giải phóng miền Nam, theo tinh thần nghị quyết của Quân khu 9 và Tỉnh uỷ Cà Mau: “Tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã”, đến nửa tháng 4/1975, toàn bộ cứ điểm, đồn bót của địch trên địa bàn huyện Trần Văn Thời đã bị tiêu diệt hoặc rút chạy, chi khu Rạch Ráng trơ trọi như một ốc đảo, sự chi viện từ tiểu khu An Xuyên bằng đường sông đã bị khống chế, đường bộ không có, duy nhất chỉ có trực thăng tiếp tế nhỏ giọt từ thức ăn đến nước uống. Hơn 400 tề nguỵ ở chi khu Rạch Ráng đang khốn đốn, hoang mang tột độ.

Tranh: MINH TẤN

Tranh: MINH TẤN

Với cương vị là Bí thư Huyện uỷ, tôi cùng với tập thể Ban Thường vụ Huyện uỷ triệu tập cuộc họp khẩn Huyện uỷ mở rộng, bàn kế hoạch tấn công chi khu Rạch Ráng với mọi lực lượng địa phương hiện có, cuộc họp diễn ra ở Cơi Nhì, xã Trần Hợi. Trải qua những năm tháng khó khăn ác liệt, mới sống đó rồi cũng chết đó, tôi chưa bao giờ chứng kiến một cuộc họp hừng hực khí thế như hôm nay. Mọi người đều nêu phương án tấn công tốt nhất, hạn chế thương vong đến thấp nhất và kết thúc với thời gian sớm nhất.

Cuộc họp đã thống nhất thành lập Ban chỉ huy thống nhất gồm 8 đồng chí, tôi làm trưởng ban, cùng các đồng chí: Lê Hồng Thương (Hai Mương), Phó bí thư Thường trực Huyện uỷ; Nguyễn Thanh Vân (Sáu Tài), Huyện đội trưởng; Mai Hữu Chiến (Năm Chiến), Trưởng ban Binh vận huyện; Lê Văn Trọng (Năm Trực), Trưởng ban An ninh huyện; Nguyễn Văn Biên, Huyện đội phó; Lê Minh Hiền, Bí thư Huyện đoàn và một số đồng chí khác. Ðồng chí Trần Hữu Vịnh (Hai Thống), Tỉnh uỷ viên được Thường vụ Tỉnh uỷ phân công chỉ đạo huyện Trần Văn Thời. Bữa cơm chia tay đạm bạc mà rất vui, sau đó ai về nhiệm vụ nấy như kế hoạch.

Về lực lượng ta, lúc này mỗi xã có một đại đội, huyện có 2 tiểu đoàn trên 400 quân, được trang bị khá mạnh, gồm cả đại liên, B40, AK, M79... Còn có loại vũ khí lợi hại khác mà chỉ có huyện Trần Văn Thời mới có, đó là 1.500 trái đạn 105 mm vừa thu được ở căn cứ Bà Thầy. Vậy mà, khi báo cáo về tỉnh, huyện chỉ khai có 800 quả, tỉnh rút hết 400. Như vậy, với 400 quả còn lại, cộng với số của “để dành”, huyện có trong tay 1.100 quả. Mỗi trái đạn 105 mm được cải tiến nằm trên bệ phóng là nỗi kinh hoàng của bọn đồn trú.

Phía địch, hiện có trên 400 quân, gồm 1 tiểu đoàn bảo an, hơn 300 quân, do tên đại uý Thạch Văn Nghiệp làm tiểu đoàn trưởng, đại uý Lê Hữu Hạnh phụ trách cảnh sát, đại uý Hoà, quận phó. Ðặc biệt, tên thiếu tá Cần vừa được thay thế thiếu tá Trường làm quận trưởng đang trong thòng lọng chờ chết.

Cùng lúc này, theo mệnh lệnh của tỉnh, huyện Trần Văn Thời phải đưa 1 tiểu đoàn cho tỉnh để chuẩn bị giải phóng tỉnh lỵ An Xuyên, mục tiêu được giao là đánh chiếm khu Cao Thắng. Huyện cử đồng chí Ðoàn Văn Vĩnh, Phó bí thư, Chính trị viên Huyện đội gánh vác nhiệm vụ này. Như vậy, việc lực lượng tấn công chi khu Rạch Ráng đã bị rút bớt, Huyện uỷ Trần Văn Thời vẫn giữ quyết tâm, rút du kích các xã thành lập tiểu đoàn mới, bố trí lại lực lượng, sẵn sàng cho cuộc quyết chiến.

Trong tình thế bị bao vây, cô lập, nhưng bọn đầu sỏ vẫn ngoan cố, mơ mộng ở một phép màu nào đó để kéo dài sự sống, bản chất tàn bạo vẫn không thay đổi, ngày đêm tìm cách bung ra để phá thế bị bao vây. Ở hướng Kinh Cũ, bọn chúng bất ngờ cho một mũi thọc ra, làm 3 du kích ta hy sinh. Có dấu hiệu cho thấy, lực lượng ta chủ quan, cho rằng địch không dám liều lĩnh, chỉ chờ chết. Ban chỉ huy thống nhất lại họp, uốn nắn tư tưởng, chỉ rõ bản chất ngoan cố của địch, còn một ngày là chúng còn gây nợ máu với Nhân dân.

Ðến ngày 26/4/1975, các quân đoàn chủ lực của ta đã áp sát Sài Gòn. Trong tỉnh, các hướng tấn công ở huyện Thới Bình, Cái Nước, Ðầm Dơi, Châu Thành giành thắng lợi giòn giã, lực lượng ta đã đứng chân sát tỉnh lỵ An Xuyên. Ban chỉ huy thống nhất chuyển 500 lực lượng chuẩn bị cho cuộc đấu tranh trực diện ở chi khu Rạch Ráng, đóng từ ngã tư Kiểu Mẩu ra kinh Hội Ðồng Thành để ra Cà Mau, thành lực lượng hậu cần, tiếp tế cho lực lượng bao vây Rạch Ráng do đồng chí Năm Sông và Tám Mỏng chỉ huy. Mũi tiến công binh vận do anh Mai Hữu Chiến phụ trách đã tung lực lượng thân nhân binh lính, cảnh sát, tề nguỵ ra chi khu vận động rã ngũ, trở về với gia đình, với ruộng vườn. Họ nói công khai, thẳng thắn, không sợ bị địch bắt bớ, đàn áp, chứng tỏ bọn địch đã dao động, tìm lối thoát.

Ngày 29/4/1975, được lệnh của quân khu, cuộc tổng tiến công vào tỉnh lỵ An Xuyên bắt đầu. Bọn địch ở chi khu Rạch Ráng không còn nhận được sự hà hơi từ những chiếc trực thăng. Ba hướng tiến công của ta từ Tham Trơi, Kinh Cũ và Rạch Lăng đã sẵn sàng. Hàng ngàn quần chúng tập trung chuẩn bị tràn ra chi khu khi có lệnh. Một phong trào cách mạng sôi sục chưa từng có, giờ khắc giải phóng huyện nhà đã rất gần. Ðồng chí Trần Minh Niên (Chín Niên) phụ trách truyền tin của Huyện uỷ có giọng nói khoẻ, diễn đạt mạnh, đã dùng máy PRC25 liên lạc với tên thiếu tá quận trưởng Cần, giải thích chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, ra lệnh cho chúng đầu hàng. Cứ một, hai tiếng đồng hồ, ta lại giục tên Cần một lần.

Tại gần vàm kinh Phát Thạnh, cách chi khu Rạch Ráng chừng hơn 1 km, ban chỉ huy thống nhất khẳng định, địch chỉ có con đường buông súng đầu hàng, khả năng phá vòng vây bỏ chạy không còn vì tại tỉnh lỵ cũng đang bị tấn công, địch đã hết đường chi viện. 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu trưởng cũng ra lời kêu gọi tất cả các lực lượng vũ trang giải giáp, buông vũ khí.

1 giờ đêm, ngày 1/5/1975, tên thiếu tá quận trưởng Cần vừa nhận chức 10 ngày đã lên máy PRC25 liên lạc với ta, chấp nhận đầu hàng. Những người có mặt ở ban chỉ huy, các cán bộ Văn phòng Huyện uỷ mừng không nói nên lời. Chúng tôi thông báo cho các mũi chuẩn bị và ra lệnh cho địch tập trung vũ khí để một chỗ; binh lính, cảnh sát, tề nguỵ tập trung một chỗ chờ ta tiếp quản. Trong khi đó, điện báo cáo và xin ý kiến với bộ chỉ huy tiền phương, các anh cho rằng nên chờ sáng.

5 giờ sáng 1/5/1975, đồng chí Lê Tuấn (Năm Song), Phó ban An ninh huyện và một số đồng chí khác đã đi thẳng vào chi khu Rạch Ráng. Ðến nơi, gặp tên thiếu tá quận trưởng Cần và thấy bọn chúng xếp hàng thứ tự, vũ khí đã chất đống trước trụ sở cảnh sát. Bằng cách tiếp cận nhanh nhạy, các mũi tiến công của ta đã tràn vào chi khu, làm chủ tình hình, cờ Chính phủ cách mạng lâm thời tung bay trước dinh quận và nhiều nơi khác. 446 tên nguỵ quân, nguỵ quyền đã được áp tải về Kinh Cũ, địa điểm ta đã chuẩn bị trước. Ở một góc phòng của cơ quan cảnh sát, địch còn tranh thủ đốt giấy tờ, ta phải xông vào dập tắt. Ðúng 6 giờ ngày 1/5/1975, chi khu Rạch Ráng, cứ điểm cuối cùng của địch tại huyện Trần Văn Thời đã được giải phóng, Nhân dân ở các hướng cũng lần lượt tràn vào, niềm vui đến bất tận.

50 năm, hồi tưởng lại giờ khắc lịch sử hào hùng đó, tôi không sao quên được. Chỉ một mảnh đất mang cái tên rất đặc trưng là U Minh lại bị kẻ thù 11 lần dùng B52 rải thảm, 27 lần rải chất độc hoá học... Ngoài chi khu Rạch Ráng, còn có 3 căn cứ quân sự: Cầu Chữ Y (Trần Hợi), Nổng Cạn (Khánh Lâm), Bà Thầy (Nguyễn Phích), một đặc khu Khai Quang, 2 giang thuyền, thuỷ quân lục chiến, hạm đội nhỏ trên sông, pháo hạm ngoài biển và 64 vị trí, 72 đồn bót khác. Từ năm 1970-1972 với cái gọi là Chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh”, các sư đoàn 21 và sư đoàn 9 nguỵ đã đổ quân càn quét, chà đi xát lại, đồng bào và cán bộ, chiến sĩ đã chịu đựng, đương đầu và chiến đấu với khí phách anh hùng.

Chiến tranh là chết chóc, chia ly, nhà tan cửa nát, nhưng chiến tranh cũng là nơi bộc lộ chân gốc rạch ròi ta - địch, là nơi tôi luyện lòng yêu nước, sự dũng cảm hy sinh vô bờ bến của mỗi con người. Ngoài lực lượng vũ trang thì mũi đấu tranh trực diện và binh vận đã để lại biết bao tấm gương đặc biệt xuất sắc, chỉ thiếu trên ngực áo họ những tấm huân chương lấp lánh hào quang. Tôi ngàn lần tri ân những đóng góp, hy sinh thầm lặng của Nhân dân để có hoà bình, độc lập, thống nhất như hôm nay./.

 

Cao Kim Dân

Nguyên Bí thư Huyện uỷ Trần Văn Thời

 

Nhớ thương đồng đội

Năm 1978, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Như, ấp Láng Giài, xã Hoà Bình, khi ấy đang độ tuổi đôi mươi, thực hiện nhiệm vụ tại Sư đoàn 4 (Quân khu 9) chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng chiến đấu vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. “Ðồng đội tôi năm đó được 35 người, giữa chiến trường ác liệt, nhiều người đã ngã xuống ngay trên tay tôi. Ðến nay, đồng đội tôi chỉ còn lại 3 người”, bà Như rơm rớm nước mắt.

Lắng nghe lịch sử giữa trùng khơi

Hành trình “Biển đảo quê hương” với chủ đề “Theo dấu chân anh hùng - Tuổi trẻ sắt son niềm tin với Ðảng” của Tuổi trẻ tỉnh Cà Mau vừa qua đưa đoàn viên, thanh niên (ÐVTN) đến với Côn Ðảo (Thành phố Hồ Chí Minh), nơi mỗi phần mộ, mỗi câu chuyện đều gắn với những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

“Buổi phát thanh gởi về Nam”

Tháng 8/1959, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề do Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, bắn giết, bắt tù đày tất thảy những người chúng cho là "Việt cộng". Nghị quyết 15 của Trung ương nhằm chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam còn trong giai đoạn triển khai...

Phát huy khí thế thành đồng Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Tự hào với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" trong sự nghiệp bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ cách đây 81 năm, Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng hôm nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân Cà Mau quyết tâm hoàn thiện hạ tầng chiến lược, vận hành bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.

Những "bông hoa lửa"

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc từng hứng chịu bom đạn, ký ức về những nữ anh hùng dấn thân vì Tổ quốc vẫn còn hiện hữu qua nhiều câu chuyện được truyền lại.

60 năm kiên trung dưới cờ Đảng

6 thập kỷ đứng trong hàng ngũ của Đảng, từng đi qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến ngày non sông thống nhất và hành trình đổi mới của quê hương, đất nước; hôm nay, khi mái đầu đã bạc, các đảng viên lão thành vẫn giữ trọn lời thề với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân.

Giữ lửa trong trái tim tuổi trẻ

Ðã 81 năm trôi qua, hào khí Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 luôn bất diệt trong mỗi trái tim người Việt Nam.