Thứ sáu, 9-1-26 04:55:07
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nghĩ về ba bản tuyên ngôn

Báo Cà Mau Quá trình phát triển, hình thành Nhà nước, lịch sử nhân loại ghi nhận không phải dân tộc nào sau khi đuổi được quân xâm lược cũng ra tuyên ngôn độc lập. Cho đến nay, thế giới ghi nhận có tổng số 195 quốc gia, trong đó chỉ có 75 quốc gia có bản tuyên ngôn độc lập; vậy mà Việt Nam có tới 3 lần ra tuyên ngôn độc lập: "Nam quốc sơn hà" (1077), "Bình Ngô đại cáo" (1428) và Tuyên ngôn Ðộc lập (1945).

Bước vào thế kỷ XXI, 195 quốc gia trên thế giới đang hoà chung với dòng chảy lịch sử nhân loại. Các quốc gia, dân tộc dù lớn hay nhỏ, đều là bộ phận không thể tách rời của lịch sử thế giới. Song lịch sử, truyền thống, bản sắc mỗi quốc gia, dân tộc không thể hoà tan trong thế giới muôn màu.

Theo GS-NGND Nguyễn Ngọc Lanh, sớm nhất trong số 75 bản tuyên ngôn độc lập trên thế giới là bản của Scotland, khi nước này thoát khỏi sự thống trị của Anh vào năm 1320.

Song, theo tôi nghĩ, bài thơ "Nam quốc sơn hà" cần được ghi nhận là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới, vì nó xuất hiện vào năm 1077, khi nước ta đánh tan quân xâm lược nhà Tống, trước bản tuyên ngôn độc lập của Scotland 243 năm.

Lịch sử và dân gian đều ghi nhận, với lời thơ đanh thép, "Nam quốc sơn hà", chính thức tuyên bố với phong kiến phương Bắc: Nam quốc là nước độc lập, ngang hàng với quốc gia phong kiến phương Bắc. Nếu xâm phạm bờ cõi nước Nam, giặc Bắc sẽ thua tan tành.

Sử sách ghi rằng, năm 1076, nhà Tống xua 100.000 quân, 10.000 ngựa và 200.000 dân phu tiến đánh Ðại Việt. Chính trong trận này, tại phòng tuyến sông Như Nguyệt, khi quân Tống sa vào trận địa của Lý Thường Kiệt, bị cắt hoàn toàn chi viện. Lương thảo thiếu thốn, quân Tống mỏi mệt, ốm yếu... thêm vào đó, quân Ðại Việt liên tục tập kích, khiến quan quân nhà Tống hãi hùng đến tột cùng. Ðêm đêm, Lý Thường Kiệt cho người tâm phúc ngâm bài thơ từ đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Lời thơ trầm bổng, uy lực như "thơ thần"; được phát ra từ hồn thiêng sông núi, khiến quân Tống càng kinh hồn, bạt vía: "Sông núi nước Nam, vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời".

Biết được quân Tống đã ở vào thế khốn cùng, để tránh hoạ binh đao khổ dân hai nước, Lý Thường Kiệt sai người đi nghị hoà. Chỉ huy quân Tống là Quách Quỳ như người chết đuối vớ được cọc, vội vã chấp nhận giảng hoà, rút tàn quân về nước vào tháng 3/1077 mà còn tim đập chân run, quỳ xuống tâu với vua Tống: "Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào"(*).

Hơn 300 năm sau, vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết "Bình Ngô đại cáo" để tuyên bố với toàn dân kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Ðại Việt.

Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 150.000 viện binh của giặc Minh, tướng giặc Vương Thông buộc phải giảng hoà, chấp nhận rút quân về nước. Cuộc kháng chiến thần thánh của Nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt 20 năm thảm khốc dưới ách đô hộ của giặc Minh, mở ra kỷ nguyên hoà bình lâu dài cho dân tộc.

"Bình Ngô đại cáo" được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, sau "thơ thần", xứng đáng là áng "thiên cổ hùng văn" trong lịch sử văn chương nước nhà. Toàn bộ nội dung "Bình Ngô đại cáo" được triển khai trên cơ sở tư tưởng nhân nghĩa và chân lý về chủ quyền độc lập của nước Ðại Việt.

Nguyễn Trãi mở đầu bài cáo bằng đạo lý nhân nghĩa được xây dựng trên nền tảng là tư tưởng thân dân: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Theo ông, yên dân trước hết là phải trừ bạo để cho dân được sống yên lành, hạnh phúc trong đất nước độc lập, hoà bình.

Năm 1945, sau 517 năm, tính từ bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam - "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi, chiều ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Ðình - Hà Nội, Bác Hồ trịnh trọng công bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới bản Tuyên ngôn Ðộc lập bất hủ.

Tranh: LÝ KIỀU LOAN

Bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Bác đề cập đến giá trị nhân văn cao cả được Bác tiếp thu từ Tuyên ngôn Ðộc lập của nước Pháp và nước Mỹ, điều mà toàn nhân loại sẽ mãi mãi theo đuổi. Ðó là con người phải được sống, được tự do, được hạnh phúc: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc...".

Quan niệm cũ trước đây là tạo hoá sinh ra muôn loài, trong đó con người là chúa tể. Ý này, nay có thể diễn tả khác đi cho phù hợp với trình độ khoa học hiện tại. Nhưng quan niệm mới nhất, cách mạng nhất là mọi người được tạo hoá ban cho như nhau những quyền tất yếu, không thể phủ nhận, không thể xâm phạm, không thể chuyển nhượng!

Ðã là quyền tất yếu, không thể phủ nhận, không thể xâm phạm, không thể chuyển nhượng thì không cần bàn cãi, không ai được phép làm người khác hiểu sai và không ai được phép lấy bất cứ tư cách gì để ban phát hay tước đoạt quyền vốn có của người khác. Như vậy, bất cứ thế lực nào, từ đâu, nếu vi phạm các quyền đương nhiên nói trên, đều bị coi là phi nghĩa, là thù địch.

Cùng với ngày 2/9/1945, bản Tuyên ngôn Ðộc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào là mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn luôn đoàn kết, đồng tâm nhất trí, khẳng định với tư cách là quốc gia, dân tộc với lòng tự tôn, tự hào dân tộc chính đáng. Lời tuyên bố độc lập đó trở thành giá trị tinh thần, làm nên sức mạnh truyền thống của các thế hệ người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai./,

Trần Lượng


(*) Theo Bách khoa toàn thư mở, viết về Lý Thường Kiệt.

 

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài cuối: Nối tiếp truyền thống, dấn thân kiến tạo

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Cà Mau không chỉ là mảnh đất của những chiến công hiển hách mà còn là nơi lưu dấu những giá trị sâu sắc về dân chủ và pháp quyền. Ở đó, dòng chảy lập hiến luôn được tiếp nối giữa các thế hệ.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 3: Phát huy dân chủ - Kiến tạo phát triển

80 năm đã trôi qua kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội năm 1946, tinh thần “lấy dân làm gốc” vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng chảy chính trị của đất nước. Tại vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, tinh thần ấy đang được cụ thể hoá bằng chính quyền gần dân, hiểu dân, vì dân, nơi quyền lực của Nhân dân được thực thi mạnh mẽ qua từng lá phiếu và tiếng nói phản biện tại diễn đàn HÐND các cấp.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 2: Từ lá phiếu đầu tiên đến nghị trường

Trải qua 15 nhiệm kỳ gắn liền với 80 năm lịch sử Quốc hội Việt Nam, các thế hệ đại biểu Quốc hội (ÐBQH) tỉnh Cà Mau (bao gồm cả giai đoạn thuộc tỉnh Bạc Liêu và Minh Hải) đã luôn khẳng định vai trò là cầu nối vững chắc giữa ý chí của Nhân dân vùng cực Nam với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Từ những ngày đầu sơ khai của nền dân chủ đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dấu ấn của người đại biểu nơi đây luôn đậm nét trong từng quyết sách hệ trọng của quốc gia.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ

LTS: Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội (6/1/1946-6/1/2026), chúng ta cùng ngược dòng lịch sử về vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Giữa tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, người dân Cà Mau biến ngày 6/1/1946 thành "mốc son chói lọi", khẳng định quyền làm chủ và khát vọng độc lập cháy bỏng của một dân tộc quyết không làm nô lệ.

Tiểu đoàn 307 - Huyền thoại và sự tiếp nối

Tiểu đoàn 307 không chỉ là cái tên đi vào những ca khúc cách mạng bất hủ, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường Nam Bộ. Trên vùng đất Cà Mau kiên trung, dấu ấn của Tiểu đoàn đã được khắc ghi đậm nét trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Khởi nghĩa Hòn Khoai - Biểu tượng anh hùng bất tử

Cách đây 85 năm, tại Hòn Khoai - đảo tiền tiêu phía Tây Nam Tổ quốc, diễn ra sự kiện lịch sử lừng lẫy: cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, do Anh hùng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13/12/1940 giành toàn thắng.

Nhớ mái trường thời chiến

Giữa năm 1967, tôi được địa phương chọn đưa đi học Trường Bổ túc văn hoá tu nghiệp sư phạm huyện Trần Văn Thời, đào tạo giáo viên cho cơ sở.

Nghĩa tình son sắt, vượt thời gian

Mối quan hệ kết nghĩa giữa Ninh Bình (miền Bắc hậu phương) và Bạc Liêu (miền Nam tiền tuyến, nay là tỉnh Cà Mau) là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết Bắc - Nam, hưởng ứng phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh do Trung ương Ðảng phát động năm 1960. Vượt qua khoảng cách địa lý, tình nghĩa keo sơn này được hun đúc và phát triển bền vững từ những năm tháng kháng chiến đến ngày nay.

Treo cờ dụ địch

Hướng tới ngày kỷ niệm Chiến thắng Ðầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (23/11/1963), tôi xin viết lại câu chuyện treo cờ dụ địch, ghi theo lời kể của đồng chí Châu Thái Biết, nguyên Tiểu đội trưởng Trinh sát đặc công, Tiểu đoàn 306 anh hùng (đã mất cách đây gần 3 năm), như sự tri ân những người trực tiếp làm nên chiến công bất tử trên mảnh đất Cà Mau giàu truyền thống cách mạng.

Thương về đồng đội

Những ngày tháng 10, mưa giăng đầy trời, lòng người cũng thường hoài niệm về quá khứ. Đội Văn nghệ Thị đội Cà Mau năm xưa, những cựu chiến binh tuổi quá lục tuần lại quây quần bên nhau cùng hát, múa, tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh.