Thứ bảy, 29-8-26 06:27:08
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Ăn ong - Nghề từ thuở khai hoang

Báo Cà Mau (CMO) Về xứ U Minh Hạ không ít lần, rong ruổi tận lõi những cánh rừng tràm, điều kỳ thú dường như vô cùng tận. Ẩn bên trong sự mộc mạc, hoang sơ là sự sáng tạo bền bỉ và tài tình của bao nhiêu lớp người nối tiếp nhau để thích nghi và làm chủ vùng đất được miêu tả là “sấu lội, cọp um”. Và rồi cái nghề ăn ong, nghề rừng hầu như ai cũng biết, cũng thạo ở xứ U Minh Hạ, đã khiến tất cả phải "ngã ngửa" khi có cái “bản lý lịch” vô cùng đặc sắc. Một nghề rừng gắn với những lưu dân từ thời mở đất, là sản vật để tự hào và có tính đại diện cho cả một không gian văn hoá thì làm sao có thể đơn thuần.

Nghề ăn ong có từ bao giờ?

Hầu như tất cả các đầu sách khi viết về văn hoá Nam Bộ đều dành một phần trang trọng để nói về nghề ăn ong. Trong quyển “Cà Mau xưa” của tác giả Huỳnh Minh - Nghê Văn Lương có miêu tả khá cụ thể về cách thức và thời điểm để những người dân xứ rừng đi ăn ong. Những người ăn ong được gọi là thợ, sẽ kết nối với nhau bởi một tổ chức gọi là phong ngạn. Những thành viên có quy ước với nhau, hiểu nôm na là đạo đức nghề nghiệp khi hành nghề ăn ong. Ở thời điểm hiện tại, chỉ mật ong là giữ gần như nguyên vẹn giá trị, nhưng thời trước, sáp ong cũng là một sản phẩm có giá trị lớn của nghề ăn ong.

Ăn ong tại khu vực rừng tràm U Minh Hạ, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời.                       Ảnh: QUỐC RIN

Theo Nhà văn, Nhà biên khảo Sơn Nam, sáp ong được coi là mặt hàng có giá trị trong nhiều lĩnh vực, như làm nến thắp, làm các chất dẫn trong các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và y học. Sáp ong quý đến nỗi khi muốn nói ai đó đưa hối lộ, đút lót thì kêu là “đút sáp”. Bởi vậy, không có gì bàn cãi khi nói về tầm quan trọng của nghề ăn ong đối với người dân xứ rừng tràm. Chỉ có điều, các đầu sách chỉ nêu ra một cột mốc rất chung chung, có ý nghĩa về định tính hơn là chính xác, nghề ăn ong ra đời gần như song hành với thời khẩn hoang, mở đất. Đó là sáng tạo tài tình của người dân khi ứng xử với một vùng đất đầy sản vật nhưng cũng còn quá hoang sơ, nguy hiểm chực chờ.

Nhà văn Đoàn Giỏi trong tác phẩm "Đất rừng phương Nam" có miêu tả chi tiết về cách gác kèo ong: “Lưng mang cái gùi tre đan đã trát chai, tay cầm chà gạc… Chọn được vùng rừng tốt, biết mùa xuân tràm sẽ kết hoa nhiều, mới định chỗ đặt kèo. Phải xem hướng gió, tính trước đường bay của ong mật. Đó là những chỗ “ấm”, cây day, không bị ngọn gió thốc thẳng vào và ít khi có những dấu chân người…”. Kèo là một nhánh tràm, gác chênh chếch xong thì phải “rửa”, tức là phát quang. Ong không ưa chỗ bóng rợp, vì mật thường chua và dễ bị ẩm tổ. Kèo phải cũ, tiệp màu với cây rừng, ong mới về đóng. Kèo mới, còn mùi dao búa, kim khí thì ong chúa rất kỵ.

Để rồi, bằng tất cả sự tự hào, Nhà văn Đoàn Giỏi khẳng định chắc chắn: “Trong kho tàng kinh nghiệm của những nhà nuôi ong trên thế giới ghi chép trong các sách vở mà tôi được nghe thầy giáo tôi kể, không thấy có nơi nào nói đến việc lấy mật bằng cách gác kèo như má nuôi tôi đã kể cho tôi nghe”. Cái nghề ăn ong, coi dễ nhưng không phải ai cũng làm được. Phải nắm giữ được những bí quyết nghề nghiệp, giữ được đạo đức của người ăn ong mới mong bền vững. Đó là không ăn ong trên kèo người khác, khi cắt mứt ong, phải chừa lại chừng 1/3 tổ để ong xây lại. Hàng năm, phải có lễ với thổ công, thần rừng để cam kết là không huỷ hoại, tận diệt tài sản của rừng già…

Vừa rồi, tại Cà Mau, tình cờ có nghe việc nơi nọ tổ chức lễ cúng tổ nghề ăn ong, chúng tôi vô cùng thắc mắc. Làm gì có tổ nghề ăn ong, chỉ có các bậc tiền nhân, thổ công, hà bá, thần rừng… là những điều mà xưa nay người thợ ăn ong bày tỏ lòng thành kính để tưởng nhớ và khấn vái. Tìm khắp tài liệu và cả qua kinh nghiệm dân gian cũng chưa thấy nhắc đến chuyện tổ nghề ăn ong. Thế nên, cúng bái cũng phải đúng, không theo kiểu tràn lan. Và sau khi tìm hiểu rất nhiều kênh thông tin, rốt cuộc, chúng tôi cũng phải xin nợ lại một câu trả lời, nghề ăn ong có từ bao giờ. Chỉ có một điều chắc chắn rằng, nghề ăn ong đã gắn bó với dân xứ rừng tràm từ xa xưa, thuở khẩn hoang, mở đất.

Sản vật quý của rừng tràm

Về xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, chúng tôi ghé thăm anh Phạm Duy Khanh, chủ homestay Mười Ngọt để tìm hiểu thêm về nghề ăn ong. Gia đình anh Khanh có diện tích rừng tràm khoảng 60 ha, trong đó có khoảng 10 ha là tràm nguyên sinh. Có mối liên hệ thân tình, nên anh Khanh nhiều lần thủ thỉ tâm tình: “Hồi mới về, cha con tui cực khổ lắm. Cái quần không bao giờ kịp ráo nước. Nhưng mình mê rừng, rồi từ từ, rừng cũng đền đáp cho mình thôi”. Chỉ riêng việc khai thác mật ong từ gác kèo và mật ong ruồi tự nhiên, mỗi năm anh Khanh thu về không dưới 1.000 lít.

Với giá bình quân, ong mật 400.000 đồng/lít, ong ruồi 800.000 đồng/lít, thu nhập không hề ít, nếu không nói là đáng ước mơ. Thế nhưng, với anh Khanh, tiền chưa phải là ưu tiên lớn nhất: “Mình làm nghề, quan trọng nhất là giữ được uy tín, chất lượng mật ong. Bây giờ, người ta giả mạo, nhái thương hiệu mật ong U Minh Hạ, thậm chí pha tạp vào mật ong, khiến người mua ngày càng nghi ngại”. Ăn từ rừng thì phải giữ gìn và biết ơn rừng. Anh Khanh tiết lộ: “Nghề ăn ong hay nghề nào cũng vậy thôi, mình phải biết dưỡng sức cho ong, biết trồng thêm rừng để nhiều hoa cho ong hút mật. Ăn ong phải tuyệt đối chú ý đến việc lửa đóm để tránh cháy rừng”.

Coi vậy mà nghề ăn ong lắm công phu, vất vả. Mật ong chất lượng nhất vào mùa khô, đặc biệt là mùa xuân, khi hoa tràm nở rộ. Anh Khanh dẫn chúng tôi đi trải nghiệm việc ăn ong trong những cái kèo tuốt trong lõi rừng tràm. Tỉ mẩn, nhẫn nại và hoàn toàn tự tin, đúng là phong thái của những người làm chủ rừng tràm. Theo anh Khanh, tốt nhất là không dùng dao cắt sáp ong, bởi có mùi kim loại. Trước người ăn ong vẫn dùng cật tre vót mỏng làm dao cắt. Ăn ong kiêng kỵ nhiều thứ, như chuyện quan hệ vợ chồng, tang chế… Người xưa cho rằng, nếu phạm điều kỵ, ong thường hung dữ và bung ra đánh người. Lấy ong phải chọn buổi trong ngày, khi nào trời dịu thì ong cũng bớt hung dữ, tập trung về tổ tiết mật nhiều. Không ăn ong khi trời vừa đổ mưa xong vì dễ bị ong tấn công…

Ngày trước, ngoài mật ong, sáp ong được đem về chế biến và đựng trong khạp da bò. Mật ong bảo quản đơn giản, nhưng cũng có một số điều lưu ý. Đó là không đựng mật trong chai thuỷ tinh, dễ bể chai. Nếu giữ trong ngăn mát tủ lạnh nên tranh thủ sử dụng. Theo nhiều nghiên cứu, mật ong nguyên chất có hạn sử dụng mãi mãi, nhưng phần lớn mật ong có lẫn tạp chất, tạp chất càng nhiều thì hạn sử dụng càng ngắn lại. Với trẻ em dưới 1 tuổi, tuyệt đối không sử dụng mật ong. Mật ong có giá trị dược liệu và bồi bổ tuyệt vời, cực kỳ hữu ích cho sức khoẻ.

Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cà Mau Dương Minh Vĩnh cho biết: “Nghề ăn ong là cả sự kết tinh nghệ thuật ứng xử của người xưa với thiên nhiên trù phú nhưng khắc nghiệt của rừng tràm. Nghề ăn ong vừa được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia của tỉnh Cà Mau, đó là sự thừa nhận vô cùng xứng đáng và rất tự hào”. Việc gìn giữ và truyền nghề trong cộng đồng cũng đã được khởi động, triển khai một cách bài bản hơn. Theo quan điểm của chúng tôi, người ăn ong không chỉ là thợ, mà đúng hơn là những nghệ nhân dân gian về một nghề rất đặc trưng của vùng rừng tràm U Minh. Họ đã nâng tầm nghề mưu sinh thành  nghệ thuật bao hàm cả giá trị văn hoá và triết lý nhân sinh.

Thương hiệu mật ong rừng tràm U Minh Hạ cũng đã được công nhận là thương hiệu tập thể. Mật ong U Minh Hạ đã mang hương tràm quê hương vươn xa đến mọi nơi. Cái nghề từ thời khẩn hoang, mở cõi, vẫn trường tồn như cây tràm bén vào lòng đất mẹ, dâng mật ngọt, hương sắc cho đời./.

Phạm Hải Nguyên

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.