Thứ bảy, 29-8-26 04:37:04
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Bâng khuâng nhớ bóng hàng cau

Báo Cà Mau (CMO) Mấy ngày gần đây, tôi đã đọc nhiều bài viết đầy xúc động của bạn bè trên mạng xã hội. Họ, vì lệnh giãn cách mà không thể về quê giỗ cha mẹ, hay ông bà. Dịch Covid thật ghê gớm, nó không chỉ bào mòn thể xác, mà còn làm tổn thương tâm hồn con người một cách âm thầm, dai dẳng.

Trông người lại ngẫm đến ta, chợt nhớ ngày giỗ ngoại cũng sắp tới rồi. Tôi không chắc ngày đó mình có được về thắp cho ngoại nén nhang hay không, dù từ nơi tôi ở về quê ngoại chỉ hơn mười cây số.

Chiều chiều ra đứng bờ ao

Trông về quê ngoại ruột đau chín chiều

Ðường không cách trở bao nhiêu

Cò bay thì được, tôi về thì không… (*)

Ngoại qua đời khi tôi mới vào đầu cấp hai. Hơn 30 năm đã trôi qua, nhưng những ấn tượng về tình thương của ông, bà ngoại dành cho tôi vẫn còn in rõ trong tâm trí.

Nhà ngoại hồi đó trồng nhiều cau, mỗi khi ba má về chơi, biết tôi thích, lần nào ngoại cũng gởi cho vài cái quạt làm bằng mo cau. Có cái mới tinh, cái thì đã nhiều vết sờn quanh mép quạt, chỗ tay cầm lấm tấm dấu thâm kim vì bám mồ hôi. Tôi rất quý và tưng tiu những cái quạt ngoại gửi cho. Phần ba má thì được ngoại cho một vài keo cau khô để ăn dần. Bà ngoại ghiền ăn trầu, nên trong nhà lúc nào cũng phải có cau tươi, rồi cau khô dự trữ.

Hàng cau, bờ dừa, rưng rưng kỷ niệm tuổi ấu thơ. Ảnh: HUỲNH LÂM

Lúc tôi còn nhỏ xíu, ba má đã xin giống cau của ngoại về, trồng được hai cây bên hè. Má nói, trồng cau để lâu lâu ngoại xuống chơi, có cau cho ngoại ăn trầu. Hai cây cau bên hè ấy đã gắn liền với những ngày thơ của anh em nhà tôi, với biết bao là kỷ niệm hồn nhiên, trong trẻo.

Cây cau lớn khá nhanh, trồng vài năm đã vượt lên cao vút; cau xếp vào hàng “lão” thì chiều cao trên mười thước là chuyện bình thường. Thân cau thẳng đuột như nến, cấu tạo khá giống với thân dừa, nhưng mảnh dẻ hơn nhiều, bề hoành chỉ chừng năm sáu tấc. Với hình dáng như thế, chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng qua, từng chùm lá, buồng cau tít trên cao lại xào xạc, đong đưa.

Cũng như cây dừa, cau trưởng thành trổ khá nhiều buồng cách quãng nhau không xa, những buồng cau sai dễ có đến hàng trăm trái. Buồng cau được chọn thu hoạch thông qua đánh giá bằng cảm quan về màu sắc của trái cau. Mỗi ngày qua đi thì trái cau sậm màu thêm một chút. Người có kinh nghiệm, nhìn sơ qua màu vỏ là biết buồng cau nào còn non, buồng cau nào vừa ăn.

Với những cây cau lão, muốn lấy buồng, không còn cách nào ngoài việc leo lên tận ngọn. Công việc này chỉ có thanh niên trai tráng mới đủ sức làm, nhưng thường phải có “dây nài” đi theo.

Dây nài khá đơn giản, làm từ dây chuối khô bện, ngâm nước cho dẻo hoặc một đoạn dây dù dài chừng bảy tám tấc, buộc chặt hai đầu với nhau, sau đó luồn vào nối hai bàn chân người leo cau để tăng ma sát. Những người leo cau giỏi, mang nài vô là “đi” thoăn thoắt một hơi từ gốc tới ngọn. Leo cau phải mang theo dao để cắt buồng và một sợi dây dài, loại chắc. Buồng cau sau khi chặt ra được buộc dây, thả từ từ xuống đất trong sự hồi hộp và thán phục của những người bên dưới.

Hồi nhỏ, tôi hay theo các anh trong nhà đi hái cau rồi giành xách buồng cau. Buồng cau nặng trịch, rinh è ạch, phải dừng lại… thở dốc vài bận mới đem vô tới nhà.

Cau đem vô nhà, trước tiên là lặt trái rồi chẻ hai lấy ruột. Chẻ cau chỉ cần dùng dao bén loại thường, nhưng khâu tách ruột ra khỏi vỏ phải dùng một công cụ đặc biệt, gọi là “dao cau”. Loại dao này đã lâu tôi không còn nhìn thấy.

Dao cau có hình dáng rất đặc trưng, với cán dài gấp đôi phần lưỡi. Trong tổng thể chiều dài lưỡi dao chừng một tấc thì một phần ba là mũi nhọn, hai phần ba phía gần cán được rèn to bản, nhìn mặt ngang như một ngọn núi nhô cao. Có thể mường tượng dao cau với hình dáng con lạc đà, hoặc phần đầu của loài cá heo. Phần lưng nhô lên làm điểm tựa và tăng lực cho bàn tay, phần nhọn để tách ruột cau cho dễ dàng. Trái cau chỉ lớn tương đương cái trứng gà, nhưng được cái vỏ mỏng nên phần ruột thu được khá lớn. Vỏ cau khi ấy thường được cắt thành nhiều miếng nhỏ bằng ngón tay út, giắt trên vách nhà để dành… chà răng cho sạch, vì thời đó kem đánh răng rất hiếm.

Ruột cau có màu hồng sẫm bắt mắt, nếu nhà có người ăn trầu thì ăn ngay cau tươi sẽ ngon hơn. Phần lớn ruột cau sau khi tách ra thì đem đi luộc chín, sau đó vớt ra, xắt ra khoanh với độ dày vừa phải rồi dùng giần hoặc sàng phơi nắng cho thật khô. Cau khô phơi nỏ sẽ có màu huyết sậm đặc trưng, miếng cau rất cứng phải vận lực hàm răng khi cắn mới bể. Gia đình tôi xưa lúc nào cũng có sẵn vài keo cau khô, hầu như ai cũng có thói quen ăn món này. Cau khô mang vị chát, có tác dụng chống chứng “ở cổ” và tanh miệng rất tốt, nhất là sau mỗi bữa ăn. Những năm đầu đi làm, mỗi lần về quê tôi đều xin má ít cau khô, mỗi lần đi… nhậu về là lấy một miếng nhai tóp tép.

Người lớn chờ cau chín, còn đám trẻ thì ngày ngày trông mong cho mo cau mau rụng. Một cái mo cau rụng xuống là cả niềm sung sướng của tụi trẻ nít trong nhà. Cứ chiều chiều, năm sáu anh em, đứa ngồi, đứa kéo “tàu” mo cau vòng vòng trước sân nhà. Trạc tuổi nhau thì đứa ngồi, đứa kéo; mấy đứa nhỏ hơn thì hai ba đứa một bận cùng đi. Ðứa kéo lả mồ hôi, đám “khách” thì cười nghiêng ngả. Kéo tốc độ, có khi giữa đường tàu… lật, cả đám té lăn cù, mình mẩy, đầu cổ bám đầy bụi đất… mà vui. Tàu mo cau kéo lâu ngày mòn vẹt vẫn cứ chơi, rồi hóng chừng kiếm cái mo cau khác.

Nếu “thu hoạch” được nhiều mo cau rụng, người lớn sẽ lấy cắt làm quạt, để dành phe phẩy trong những ngày hè. Một cái mo thường cắt được chừng hai ba cái quạt. Các chị gái thì tận dụng phần bìa mo dư ra, cắt thành những miếng hình tròn lót trong lòng cái rế nồi cơm, vừa tránh lọ nồi bám vào, vừa giữ cho bền rế.

Những cây cau già, không còn ra trái hoặc bị sâu đục phá được đốn xuống, một là dùng bắc cầu qua sông, hai là bổ đôi, móc ruột làm máng xối hứng nước mưa. Thân cau cũng ưa được xả thành ván lót sàn lãng hoặc đóng sạp xuồng.

Với những nơi có nghề dệt chiếu thì thân cau rất quý, vì được sử dụng làm cây chuồi lác. Nhà tôi, những năm còn dệt chiếu có mấy cây chuồi lác bằng cau bóng dợn, lên nước nhìn rất thích mắt. Rồi nghề dệt chiếu mai một, cây chuồi lác chẳng mấy ai giữ lại làm chi...

Ngoại qua đời, không còn nghề chiếu, hai cây cau nhà tôi từ từ già đi, rồi theo ông theo bà. Vườn cau nhà ngoại với những bóng cây ngả dài trên bờ ao cũng không còn nữa. Thời hiện đại, người còn ăn trầu có lẽ chỉ đếm được trên đầu ngón tay, những vườn cau sum sê trước kia được thay thế bằng vuông tôm, ao nuôi cá công nghiệp, hoặc trồng các loài cây cho thu nhập lý tưởng hơn.

Sự tồn tại của cây cau đến giờ, lý do chính nhất, theo tôi bởi trái cau, cùng với lá trầu là hình ảnh tượng trưng cho tình yêu đôi lứa. Theo phong tục truyền thống của người Việt, đám hỏi, đám cưới nhất định phải có mâm trầu cau trong phần sính lễ. Chú rể, cô dâu cùng dỡ mâm trầu cau là nghi thức bắt buộc phải có trong lễ thành hôn. Trong dòng chảy văn hoá mới, giữ được nét đẹp ấy âu cũng là điều đáng mừng.

Dưới chân cầu Mới, phía Phường 2 có mấy sạp bán trầu cau, nghe chừng đã tồn tại khá nhiều năm rồi. Mỗi lần qua đây, tôi lại tự hỏi bao nhiêu người yêu nhau đã đến đây mua cau, mua trầu rồi kết tóc, se tơ, sinh con đẻ cái? Hơn 10 năm trước, tôi cũng từng đến đó.

Ngẫm lại có lẽ, cây cau - dây trầu là một trong những hình tượng xuất hiện nhiều nhất trong các tác phẩm văn học - nghệ thuật Việt Nam. Phải đến hơn 20 năm rồi, đến giờ tôi vẫn thích xem vở cải lương “Sự tích Trầu Cau”, vẫn yêu say sưa cái giai điệu ngọt ngào của “Hoa cau vườn trầu”, vẫn rưng rưng nhớ về thuở ấu thơ khi nghe ai đó cất lên bài ca cổ “Buồng cau quê ngoại”.

Bâng khuâng nhớ bóng hình những hàng cau năm xưa, nghĩ về chặng đường sắp tới, tôi càng tin quá khứ không chỉ là kỷ niệm, mà ở đó còn có những chất liệu làm nên điểm tựa vững chắc, để con người hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn./.

 

(*) Trích trong bài vọng cổ “Buồng cau quê ngoại” của soạn giả Thu An

Tuấn Ngọc

 

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.