Chủ nhật, 6-9-26 05:50:15
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Ðê biển Tây “oằn mình” trước sóng dữ: Bài 2: Bao giờ giải quyết được chuyện mưu sinh?

Báo Cà Mau Thiên tai liên tục xảy ra, tình hình sạt lở đê biển Tây ngày một nghiêm trọng hơn. Ai cũng biết nguyên nhân là do biến đổi khí hậu, nhưng nguyên nhân sâu xa lại là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, là do con người. Con người phá rừng để mở rộng diện tích nuôi thuỷ sản; con người sống ven bãi, ven bờ để mưu sinh cũng là một phần nguyên nhân khiến tình hình sạt lở ngày càng nghiêm trọng.

Thiên tai liên tục xảy ra, tình hình sạt lở đê biển Tây ngày một nghiêm trọng hơn. Ai cũng biết nguyên nhân là do biến đổi khí hậu, nhưng nguyên nhân sâu xa lại là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, là do con người. Con người phá rừng để mở rộng diện tích nuôi thuỷ sản; con người sống ven bãi, ven bờ để mưu sinh cũng là một phần nguyên nhân khiến tình hình sạt lở ngày càng nghiêm trọng.

Tuy nhiên, bài toán giữa con người và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên chưa bao giờ có được đáp án cuối cùng, làm hài hoà quyền lợi của đôi bên. Và hiện nay cũng thế, mặc dù cái giá phải trả là quá đắt!

Theo quy hoạch tổng thể bố trí dân cư trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006-2015 sẽ hình thành 35 cụm, tuyến dân cư. Theo đó, sẽ có 13.873 hộ dân được bố trí định cư. Tổng mức đầu tư cho quy hoạch này là 483 tỷ đồng. Hiện tại tỉnh đang thực hiện dở dang 7/18 cụm tuyến dân cư, tổng số hộ dân được bố trí ổn định là 490 hộ, gần 2.000 khẩu. Trong đó, có 315 hộ là dân di cư tự do, dân trong khu vực rừng đặc dụng. Tổng vốn được giao để xây dựng 7 cụm, tuyến dân cư giai đoạn 2013-2015 là 39 tỷ 532 triệu đồng; chỉ đạt 30% tổng nhu cầu vốn theo quyết định đã phê duyệt.

Như vậy, việc không thực hiện được trọn vẹn về quy hoạch các cụm, tuyến dân cư là một món nợ lớn đối với người dân.

“Xẻ thịt” rừng phòng hộ

Bình quân mỗi năm có hàng trăm héc-ta rừng phòng hộ bị mất. Nguyên nhân mất rừng được xác định là do sạt lở nhưng mấy ai ngờ được rằng trong đó có một phần lỗi từ phía con người.

Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ biển Tây Phạm Văn Oanh cho biết, qua kết quả kiểm kê rừng năm 2014 cho thấy, diện tích rừng phòng hộ đã giảm nhiều so với trước đây. Ðể giải quyết vấn đề dân sinh, năm 1995, tỉnh cho chủ trương các ban quản lý rừng phòng hộ thực hiện giao khoán đất rừng cho dân quản lý. Trên diện tích rừng được giao khoán, người dân đào ao, lên liếp để nuôi thuỷ sản (chủ yếu là nuôi tôm biển, sò, ốc, vọp…). Vì thế diện tích rừng phòng hộ cũng mất theo.

Anh Nguyễn Văn Lài, Ấp 11, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, cho biết: “Tôi sống ở đây đã 38 năm rồi. Từ đời cha để lại hợp đồng giao đất giao rừng để phát triển sản xuất. Nay hợp đồng đó đã hết hạn, tôi cũng chẳng biết phải đi đâu nên đành bám trụ lại với rừng, với biển".

Anh Lài bồi hồi nhớ lại: "Lúc đó đai rừng phòng hộ còn dày lắm, khoảng hơn 2 km, mỗi lúc luồn rừng không quen chúng tôi còn bị lạc đường. Giờ thì do biến đổi khí hậu, do con người đào ao nuôi tôm rồi cất nhà nên cây rừng mất dần theo năm tháng. Giờ thì sóng đánh sát vách nhà luôn rồi, chúng tôi ở đây để chờ khi biển lặng thì ra biển đánh cá chứ có còn nuôi nấng gì được nữa đâu".

Gia đình bà Nguyễn Thị Thuận mặc dù được bố trí tái định cư nhưng vẫn ra ven rừng, ven biển mưu sinh.      Ảnh: NGỌC HUỆ

Sau khi nhận thấy việc giao khoán đất rừng phòng hộ cho dân nuôi thuỷ sản là không hợp lý, UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị quản lý bảo vệ rừng kết thúc hợp đồng giao khoán khi đến hạn (năm 2015). Và đến nay nhiều địa phương cũng chưa biết sẽ giải quyết “món nợ” với dân như thế nào.

Chủ tịch UBND xã Khánh Tiến Huỳnh Công Hiệu bộc bạch: "Dân sống với mình lâu như vậy rồi (trên 20 năm) nên mình phải có trách nhiệm. Từ việc bố trí tái định cư đến việc giải quyết việc làm, tất cả đều là gánh nặng rất lớn cho địa phương".

“Trong cái khó ló cái khôn”, hết hợp đồng giao khoán đất rừng, một số ít hộ được bố trí tái định cư và tìm nghề khác sinh sống, phần nhiều còn lại vẫn lên rừng, xuống biển tìm kế sinh nhai. Trăn trở trước cảnh tình dân nghèo ven biển, một số địa phương đã nảy ra sáng kiến hợp đồng dân giữ rừng vào kết hợp cho dân sử dụng phần đất trong rừng phòng hộ để nuôi ốc len, cải thiện cuộc sống. Ðiển hình cho “sáng kiến” này là Ban Quản lý rừng phòng hộ Sào Lưới, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, đã tiến hành hợp đồng với dân giao 196 ha rừng cho dân giữ và nuôi ốc len xen canh dưới tán rừng từ năm 2014 đến nay. Hiện mô hình này đang được các địa phương xin chủ trương UBND tỉnh để tiếp tục nhân rộng.

Chủ tịch UBND huyện U Minh Dư Bé Ba trần tình: "Ðể giảm áp lực lên rừng, lên đê thì tất yếu phải giải quyết vấn đề dân cư. Trong điều kiện định cư hiện nay, vấn đề việc làm là khá bức xúc. Hộ nghèo ven biển luôn là gánh nặng của mỗi địa phương. Chính vì vậy, huyện đã xin chủ trương UBND tỉnh để xây dựng phương án thí điểm khoanh nuôi và khai thác 2 bãi sò tại 2 xã: Khánh Hội và Khánh Tiến, từ đó sẽ giải quyết một phần rất lớn số hộ nghèo ven biển".

Dù là “sáng kiến” hay gì, thì mong muốn cuối cùng của các địa phương vẫn là nỗ lực giải quyết khó khăn cho hộ nghèo ven biển. Tuy nhiên, họ chưa nghĩ xa rằng một khi người dân còn sống trong rừng phòng hộ (dù là dưới hình thức giữ rừng đi chăng nữa) thì rừng nhất định sẽ bị xâm hại và việc trồng rừng để tạo bãi càng khó thực hiện và “món nợ” mà thiên tai đang đòi chính là sạt lở ngày càng nghiêm trọng.

Chưa lo được tái định cư

“Nhu cầu xây dựng thì nhiều nhưng nguồn vốn để xây dựng luôn ở trong tình trạng thiếu thốn. Ðó là thực trạng chung tại các khu tái định cư hiện nay”,  Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau Phùng Sơn Kiệt trần tình.

Phó Chủ tịch UBND huyện Trần Văn Thời Sử Văn Minh chia sẻ: "Toàn tuyến đê biển Tây hiện có trên địa bàn huyện là 34 km với gần 1.500 hộ dân sinh sống trong, trên và ngoài đê. Ða phần số này là hộ nghèo, đông con, không đất sản xuất. Giải quyết bài toán an cư lạc nghiệp là rất khó khăn, ngoài khả năng địa phương. Hiện tại trên địa bàn huyện quy hoạch 2 dự án tái định cư với 4 cụm, tuyến dân cư có sức chứa trên 500 hộ dân. Tuy nhiên, do thiếu vốn nên các khu tái định cư vẫn chưa thể hoàn thiện hạ tầng, đến thời điểm này mới chỉ có 2 khu tái định cư đưa được dân vào ở".

Một đặc điểm dễ dàng nhận thấy là các khu tái định cư đã qua được quy hoạch bộc lộ nhiều hạn chế (sức chứa rộng, hạ tầng được đầu tư đầy đủ, xa các cửa sông, cửa biển để đảm bảo an toàn khi mưa bão, không đất sản xuất, không chỗ neo đậu tàu thuyền…). Chính vì lẽ đó người dân chưa mặn mà với các khu tái định cư.

Bà Nguyễn Thị Thuận, 64 tuổi, vàm kinh Mỹ Bình, xã Phú Tân, huyện Phú Tân, cho biết: "Khu tái định cư Mỹ Bình có trên 70 hộ vào ở thì đã có hơn một nửa số đó bỏ con cái ở lại và tiếp tục ra bám biển, bám rừng mưu sinh bằng nghề mò sò, bắt ốc kiếm cơm".

Mấy đời họ chỉ quen bám rừng, bám biển mưu sinh, giờ thu hồi rừng thì họ tiếp tục đánh bắt ven bờ, ven bãi. Chính vì vậy, khi xây dựng tái định cư, cái mà người dân cần nhất chỉ là phù hợp với cuộc sống vốn có của người dân, và cao hơn nữa là có nghề nghiệp ổn định.

Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Tân Trần Minh Huyện cho biết: "Dẫu biết rằng việc xây dựng phương án giữ rừng và tận dụng nuôi ốc len dưới tán rừng là "con dao hai lưỡi", vì khi người dân sinh sống và phát triển thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến rừng, đến đê. Tuy nhiên, với những hộ nghèo ven biển thì vấn đề chuyển đổi nghề cho họ là rất khó. Vì vậy, về sau này khi xây dựng các khu tái định cư chúng tôi cũng yêu cầu ngành chức năng xem xét xây dựng với quy mô nhỏ và gần mé sông, mé biển, hạ tầng thì làm những công trình tối thiểu thôi để tránh lãng phí và cũng là để nguồn vốn dư ra có thể đầu tư được nhiều khu hơn".

Hôm đến đậu ven bờ chỉ là chiếc ghe cào, sáng hôm sau, họ đã lên bờ cất tạm cái chòi gọi là cho trẻ em ở tạm, rồi vài tháng sau là cái nhà nho nhỏ cạnh mé biển với đàn con nheo nhóc để làm ăn. Lâu dần họ có hộ khẩu và sinh sống luôn ở đó. Ðó là điệp khúc của dân di cư tự do, và cũng từ đó áp lực lên rừng, lên biển, lên đê ngày càng cao. Trong khi đó, nguồn vốn bố trí tái định cư ngày càng ít đi thì vấn đề định canh, định cư cho dân sống khu vực ven bãi, ven bờ càng lúc càng gay go hơn nếu không có chính sách quyết liệt ngay từ đầu./.

Phóng sự của Ngọc Huệ - Vi Hoà -  Ðặng Duẩn

Ðể di sản trở thành nguồn lực phát triển - Bài cuối: Vun bồi cho nguồn lực nội sinh

Là vùng đất hội tụ nhiều lớp trầm tích văn hoá của miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc bảo tồn di sản không chỉ là giữ lại những giá trị của quá khứ, mà quan trọng hơn là vun bồi để di sản tiếp tục sống và tạo ra những giá trị mới mà không đánh mất bản sắc.

Giữ mạch sống đồng quê - Kỳ cuối: Giữ cá hôm nay - Giữ quê ngày mai

Những năm gần đây, cá đồng vùng ngọt Cà Mau ngày một ít dần. Bên cạnh tác động của thời tiết, môi trường, tình trạng khai thác thiếu kiểm soát, nhất là các hình thức tận diệt, khiến nguồn lợi suy giảm.

Giữ mạch sống đồng quê

Ngày trước, cứ mùa mưa, nước tràn đồng là cá theo con nước tìm về, nuôi sống bao thế hệ người dân vùng ngọt Cà Mau. Nay, những mùa cá đầy đồng thưa dần. Nguồn lợi suy giảm, tình trạng khai thác tận diệt đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giữ lại không chỉ một nguồn sinh kế, mà cả hệ sinh thái và những giá trị văn hoá gắn với đồng quê. Tuyến bài “Giữ mạch đồng quê” nhìn từ thực trạng suy giảm nguồn lợi cá đồng, tác động của khai thác thiếu kiểm soát và những nỗ lực cứu vãn đang được triển khai. Thay đổi cách khai thác, phục hồi môi trường sống, gắn bảo tồn với sinh kế là hướng để con cá trở lại đồng quê Cà Mau một cách bền vững.

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.