Thứ bảy, 29-8-26 15:42:40
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Kết thúc có hậu câu chuyện “Người giữ nhật ký đồng đội gần 45 năm”

Báo Cà Mau Trong quyển nhật ký, Quốc Tiến có nói đến mối tình giữa mình và người phụ nữ tên Kim Ánh bằng một thái độ trân trọng và một tình yêu mãnh liệt, thiết tha. Quyển nhật ký ông Ba Trân có được cũng do Quốc Tiến gởi lại nhờ trao cho Kim Ánh. Tuy nhiên, sau khi chia tay và Quốc Tiến hy sinh, ông Ba Trân cũng chuyển nơi đóng quân nên không có điều kiện tìm gặp được Kim Ánh để thực hiện tâm nguyện của bạn mình.

LTS: Báo Cà Mau số 2692 và 2693 (phát hành ngày 15 và 17/11/2014) có đăng bài “Người giữ nhật ký đồng đội gần 45 năm” kể về câu chuyện ông Thái Huyền Trân (Ba Trân, quê Cà Mau, là cán bộ trinh sát kỹ thuật Quân khu 9) đã giữ quyển nhật ký của người bạn, người đồng đội hy sinh gần 45 năm và đã nỗ lực tìm kiếm trao lại tận tay gia đình đồng đội mình. Người đồng đội ấy là liệt sĩ Ðinh Văn Màu (Quốc Tiến), quê ở Trà Vinh, ngã xuống trong một trận chống càn năm 1970.

Trong quyển nhật ký, Quốc Tiến có nói đến mối tình giữa mình và người phụ nữ tên Kim Ánh bằng một thái độ trân trọng và một tình yêu mãnh liệt, thiết  tha. Quyển nhật ký ông Ba Trân có được cũng do Quốc Tiến gởi lại nhờ trao cho Kim Ánh. Tuy nhiên, sau khi chia tay và Quốc Tiến hy sinh, ông Ba Trân cũng chuyển nơi đóng quân nên không có điều kiện tìm gặp được Kim Ánh để thực hiện tâm nguyện của bạn mình.

Biết được câu chuyện cảm động trên, người bạn của ông Ba Trân là Nhà báo Nguyễn Thanh Xuân (trước làm ở Báo Kiên Giang, giờ đã nghỉ hưu) đã bỏ công sức tìm kiếm được bà Kim Ánh. Và... nhiều điều hết sức bất ngờ, có thể coi là “kết thúc có hậu” của câu chuyện cuộc đời này.

Những ngày tìm kiếm

Khi tìm gặp và trao lại quyển nhật ký cho gia đình Quốc Tiến (bấy giờ chỉ còn duy nhất một người cháu ruột là Ðinh Văn Bắc -  nhà Quốc Tiến có 5 người: cha, mẹ, Tiến và hai người anh, tất cả đều đã hy sinh), điều ông Ba Trân còn canh cánh là chưa tìm gặp được cô Kim Ánh. “Hồi đó Tiến nhờ trao nhật ký cho Kim Ánh để Kim Ánh tìm, trao cho gia đình là Tiến đã coi Kim Ánh như người trong nhà. Qua đó cũng muốn Kim Ánh biết được tình cảm mình với cô, cũng như thanh minh lý do mình ra đi mà không kịp nói lời từ biệt”, ông Ba Trân trần tình. Vì vậy, khi không làm tròn được lời hứa với bạn, ông thấy lòng luôn áy náy.

Bà Kim Ánh cùng con trai.          Ảnh: Huyền Trân

“Tôi cũng đã nỗ lực tìm kiếm rất nhiều, nhưng cũng không rõ quê quán, chỉ nhớ mang máng là cô ở Ðập Ðá hay Cống Ðá gì đó ở Kiên Giang”, ông Ba Trân bảo. Cùng với nghe ngóng thông tin, hỏi thăm qua nhiều người, ông còn nhờ bạn bè quê Kiên Giang hoặc ngày trước công tác chung hay quen biết qua trung gian giúp tìm hộ. Nhưng tất cả đều trôi đi trong vô vọng.

Một lần, cố điểm danh lại những người quen biết, ông chợt nhớ đến bà Nguyễn Thanh Xuân, quê Rạch Giá (Kiên Giang). Thế là ông lần tìm số điện thoại và gọi nhờ bà Xuân giúp đỡ.

“Nghe anh Ba Trân kể câu chuyện, tôi xúc động vô cùng và hứa sẽ quyết tâm tìm kiếm”, bà Xuân chia sẻ. Bà bảo, qua hỏi thăm nhiều người, bà tìm đưọc 3 người có tên Kim Ánh. Loại trừ dần, cuối cùng còn 1 người tên Kim Ánh ở Ðập Ðá, nhưng lại có 1 đứa con. Ngờ ngợ, bà nhờ người bạn là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Vĩnh Thuận đến tìm hiểu cặn kẽ người này.

“Thấy đúng như anh Ba Trân kể, lại thêm một bất ngờ là hai người còn có với nhau đứa con, tôi mừng quá, điện báo ngay với anh Ba Trân. Chỉ không có xài điện thoại, thằng con có, cháu tên Khoa, tôi kêu Khoa lên Google đánh tên phim Ðài PT-TH Vĩnh Long làm nói về việc anh Ba Trân tìm gặp gia đình và trao cuốn nhật ký cha nó. Nó chạy ra tiệm net tìm kiếm. 9 giờ rưỡi đêm nó chạy về nói với mẹ nó…”, còn nguyên vẹn niềm vui, bà Xuân kể.

“Hôm sau mẹ nó gọi cho tôi trong nước mắt. Qua câu chuyện mẹ nó kể thì tôi khẳng định đúng là Kim Ánh mà anh Ba Trân cần tìm”, bà Xuân kể tiếp.

Cuộc hội ngộ nghĩa tình

“Sau khi có được thông tin và khẳng định chắc người, tôi đã gởi 2 đĩa phim và cuốn nhật ký phô-tô qua cho mẹ con Kim Ánh. Ngày 29/5 vừa qua, Khoa đã chở mẹ cháu qua nhà tôi. Dù hồi đó chỉ gặp 1-2 lần nhưng tôi nhận ra Ánh ngay. Ánh vẫn còn phảng phất nét đẹp của ngày xưa. Còn cháu Khoa thì giống Quốc Tiến lắm. Vậy là mừng lắm rồi. Phần còn lại là làm cầu nối để cho Khoa gặp gia đình bên nội, thăm mộ, thắp nhang ông bà và cha nó và lo chuyện thờ phượng sau này”, ông Ba Trân tâm tình.

Tôi gọi điện thoại cho anh Khoa và anh Bắc, cả hai đều rất vui mừng về sự kiện này, họ đang sắp xếp để anh em được gặp nhau.

Bà Nguyễn Thanh Xuân chia sẻ: “Câu chuyện này hết sức xúc động. Những năm 1970-1971, chiến tranh ác liệt, bọn giặc thực hiện chiến dịch nhổ cỏ U Minh. Và họ đã chia tay nhau đi chiến đấu trong tình cảnh như thế. Tôi cũng biết được nhà liệt sĩ Tiến chỉ còn mình cháu Bắc, giờ còn lại giọt máu của Tiến, vậy là quý vô cùng rồi. Coi như là kết thúc có hậu. Liệt sĩ Tiến còn lại đứa con trên đời, cháu sẽ tìm về cội nguồn, dòng họ…”.

Hỏi về mối quan hệ với ông Ba Trân, bà Xuân kể, trước đây ông  Ba Trân có thời gian đóng quân nơi nhà bà (ở Kiên Giang). Lúc đó bà là cô bé 15 tuổi, rất thương mến các anh, các chú bộ đội. Khoảng 1 tháng sau, bà quảy ba lô đi Cà Mau học Trường Lý Tự Trọng. Mấy năm sau, có gặp lại ông một lần ở Cà Mau. Rồi mãi đến cách đây khoảng 10 năm, anh em tình cờ gặp lại một lần nữa. Bà có cho số điện thoại và ông vẫn giữ đến giờ. Và nhờ vậy mà có cuộc hội ngộ nghĩa tình này. Và bà bày tỏ: “Tôi phục anh Ba Trân ở việc sống có tình nghĩa, trách nhiệm. Anh đã giữ kỷ vật của người bạn mấy chục năm xem như là báu vật và tìm trao lại được cho gia đình. Giờ lại tìm được mẹ con chị Ánh. Ðối với người đã khuất đây là điều hết sức thiêng liêng…”.

Ðược biết, thời gian qua, ông Ba Trân còn làm được một việc hết sức nghĩa tình là cất công đi tìm kiếm được mộ của người đồng đội đã hy sinh. Ông bảo, “mình may mắn còn sống, phải có trách nhiệm với đồng chí, đồng đội, với những người đã ngã xuống”. Có lẽ cũng vì vậy mà ngôi nhà ông là điểm hẹn thường xuyên của bạn bè thời chiến đấu. Tốn kém ông không màng. Vợ ông cũng hiểu và chia sẻ cùng chồng.

Cổ tích một chuyện tình

Gặp lại bà Kim Ánh sau một tuần biết tin về liệt sĩ Tiến, vậy mà bà vẫn còn hết sức bàng hoàng. “Mấy hôm rày khỏi ăn khỏi ngủ. Buồn lắm! Tôi không nghĩ là ảnh đã hy sinh…”, bà bùi ngùi.

Và bao kỷ niệm xưa tưởng mãi chôn vùi, chợt sống dậy: “Hồi đó anh Tiến ảnh thương tôi lắm. Tình thương ảnh đặc biệt, ảnh thương, ảnh quan tâm, chăm sóc và hướng dẫn, dạy bảo tôi đủ điều. Bạn bè ai cũng thán phục”.

Bà Ánh sống với chồng sau được 4 người con, và hai người đã chia tay nhau cách đây hơn 5 năm. Anh Khoa sinh được 2 người con và đã có cháu ngoại. Bà giờ đã lên chức cố. Hằng tháng, ngoài tiền trợ cấp thương binh 1.700.000 đồng, bà bán tnước giải khát lấy tiền trang trải.

Thông tin từ ông Ba Trân: Vào trung tuần tháng 6 này, sẽ tổ chức cho mẹ con anh Khoa và anh Bắc gặp nhau. Ðịa điểm, tại nhà ông Ba Trân. “Ðược như vậy là tôi cũng đã trọn nghĩa trọn tình với bạn mình”, ông Ba Trân trần tình.

“Hồi đó tóc tôi dài. Ảnh trực đêm ngày, vậy mà ra ca còn làm kẹp bồ câu tặng tôi. Ảnh làm khéo và làm nhiều kẹp lắm. Ảnh nói tôi kẹp lên cho gọn, khỏi vướng víu khi chăm sóc bệnh nhân”.

“Hồi đó tôi ham đi chiến đấu. Tôi và mấy đứa bạn rủ nhau đăng ký đi chiến đấu. Tôi nói với ảnh, ảnh không cho, nói là tôi còn nhỏ. Ðã hứa với bạn bè rồi, giờ vì người yêu mà không đi tụi nó cười chết. Mà mình cũng muốn đi. Vậy là tôi năn nỉ, thuyết phục ảnh. Cuối cùng ảnh đồng ý cho tôi đi…”.

“Hồi đó ảnh là người chu đáo, hai đứa đi chơi, đi qua con đường khó hay lội con mương ảnh đều cõng tôi…”.

“Hồi đó tôi cũng có nhiều người thương, ảnh so ra không đẹp trai bằng những người kia, nhưng ảnh thương tôi lạ lùng. Và không hiểu sao tôi cũng chỉ thương có mình ảnh”.

Cứ thế, bà cứ miên man trong miền nhớ với bao lời lẽ trìu mến, thân thương khi nhắc về người yêu mình.

Rồi bà chợt buồn, ray rứt: “Cả ba lô với bao nhiêu thư từ, kỷ vật ảnh tặng, tôi bị mất hết trong trận chiến đấu ở lộ Vòng Cung”.

Bà phân trần: “Việc ảnh quen tôi, ba tôi và mấy cậu đều biết. Ba tôi là Trần Văn Cư, lúc đó công tác ở Cục Hậu cần Quân khu 9, mấy cậu cũng làm ở Quân khu. Ảnh để ý tôi cũng lâu lắm, khi ảnh nói thương tôi, tôi hỏi ý kiến ba tôi và ông cho hai đứa tìm hiểu nhau. Sau này, chiến tranh càng ác liệt, thấy hai đứa thương nhau quá, gia đình cho phép tới lui. Và khi đó anh ra đi…”.

Không được tin của người yêu, kết quả của những ngày nồng ấm là bào thai ngày một lớn. Khi thai được 7 tháng, sợ nguy hiểm cho mẹ và con, thủ trưởng đơn vị cho bà lui về tuyến sau. Khi đó bà xin xuất ngũ lo chuyện sinh nở.

Là phụ nữ, bà Nguyễn Thanh Xuân thấu hiểu: “Câu chuyện đẻ con không chồng, không đám cưới, thì nói ai nghe được!”. Không thanh minh được, vừa phải đối mặt với miệng đời, đối mặt với bom đạn và những điều kiện khó khăn thời chiến tranh, lại vừa phải xoay xở nuôi con, bà chỉ biết nuốt nước mắt vào lòng với niềm mong đợi lớn nhất là chồng trở về. Nhưng một ngày, một tháng, một năm, rồi hai, ba, bốn năm… chồng vẫn bặt vô âm tính. Rồi hoà bình, niềm hy vọng càng nhân lên. Nhưng một năm, hai năm vẫn đợi chờ trong vô vọng. Cuối cùng bà đành đi bước nữa. “Lúc đó tôi nghĩ chắc anh có gia đình rồi, không còn hy vọng gì”, bà trần tình.

***

Chiến tranh đã gây bao mất mát, tang thương. Nhưng có những nỗi đau được xoa dịu chính bằng tình yêu thương, trách nhiệm của những người đồng chí, đồng đội và các thế hệ sau này. Và câu chuyện trên cũng là một câu chuyện cổ tích, mà phép màu dệt nên câu chuyện ấy chính là tình đời, là trách nhiệm của người còn sống. Tin rằng, còn nhiều điều kỳ diệu như thế xảy ra, để những hy sinh không là vô nghĩa

Trang Anh

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.