Thứ bảy, 29-8-26 07:23:22
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Lụt về lại nhớ sông xưa

Báo Cà Mau (CMO) Không biết có dòng sông nào như sông Trẹm quê tôi, mỗi năm 2 mùa mưa, nắng, thì dòng sông cũng có 2 mùa, nước mặn và nước ngọt. Từ nhỏ tôi đã nhận ra một điều, là dù vào mùa nào, dòng sông Trẹm vẫn như người mẹ tảo tần, luôn mang trong lòng mình những nguồn lợi thuỷ sản phong phú để ban tặng cho cuộc sống những cư dân hai bờ …

Người dân quê tôi quen với tên gọi sông Trẹm, nhưng tên đầy đủ của dòng sông là sông Trèm Trẹm (cũng có tài liệu gọi là sông Tràm Trẹm). Nhưng tôi không đi sâu vào tên gọi của dòng sông, chỉ muốn giới thiệu với các bạn về nguồn lợi thuỷ sản phong phú và những cách đánh bắt tôm cá từ bao đời nay qua 2 mùa nắng, mưa mỗi năm trên dòng sông Trẹm. Có thể là một vài chi tiết tôi kể giờ đây đã không còn, đã lạ lẫm với lớp người tuổi trẻ ngày nay, bởi thời gian đã làm thay đổi nhiều thứ.

Sông Trẹm hôm nay.                                                                              Ảnh: CHÍ DIỆN

Sông Trẹm năm có 2 mùa, dòng nước mang vị mặn, ngọt khác nhau. Mùa nước mặn thường bắt đầu từ khoảng tháng 11 âm lịch và kết thúc vào tháng 4 năm sau, khi mùa mưa đến và dòng sông cũng chuyển sang mùa nước ngọt. Dù là vào mùa nước mặn hay nước ngọt, sông Trẹm khi xưa luôn dồi dào tôm cá. Giờ tôi vẫn còn nhớ rõ những cách và dụng cụ bắt tôm, cá trên sông của người dân. Có thể kể ra đây khá đầy đủ, như làm nò, đặt đó, đặt vó, đi trễ và những cách đánh bắt thông thường như nhiều nơi khác, như đặt lọp, đặt lờ, giăng lưới, cắm câu, đi câu… Tuỳ theo mùa nước ngọt hay nước mặn trên sông mà bà con thay đổi cách bắt cá.

Vào mùa mưa, khi nước đã tràn đồng, thì dòng sông Trẹm cũng bắt đầu từ nước mặn chuyển dần sang nước ngọt. Khi vào mùa nước ngọt, bông súng mọc dài theo 2 bên bờ sông. Ngày còn nhỏ, tôi đã biết bơi xuồng đi giăng lưới theo làn bông súng. Bông súng mọc ven sông như 2 dải lụa trải dài một màu xanh pha lốm đốm những cánh hoa nhỏ dịu dàng nhấp nhô theo sóng nước. Cá rô, cá lóc, cá trê ít nhiều cũng có cho những bữa ăn gia đình. Những gia đình ở quê xa thị trấn thì làm gì có chuyện mua cá! Nhà nào nhiều người giỏi bắt cá được nhiều, ăn không hết còn mang ra chợ bán như một nguồn thu nhập thường xuyên của gia đình.

Tôi thích nhất là mùa nước lụt, thường vào tháng 8, tháng 9 âm lịch. Mưa nhiều làm con nước sông từ rừng U Minh đổ về pha màu đỏ của phù sa. Nước lên tràn đồng, ngập luôn cả vườn nhà, ngập con đường đất ven sông. Quê tôi gọi mùa nước lên như vậy là “nước lụt”, chứ không phải nước lũ như ở miền Trung, miền Bắc. Nước cứ lên từ từ mỗi ngày một ít, chầm chậm, hiền hoà, như sự bù đắp của thiên nhiên cho con người bằng những hạt phù sa màu mỡ cho vườn tược, đồng ruộng, và bổ sung thêm nguồn lợi đã vơi đi sau một năm sinh sống. Đợt lụt hàng năm có khi tuần lễ, 10 ngày mới rút.

Những ngày nước lụt, cá rô tôm tích trên rừng phía thượng nguồn theo con nước đỏ màu phù sa, men theo viền bông súng 2 bên sông xuôi về hạ nguồn. Bên bờ sông, bà con bắt cá rô tôm tích bằng cách đặt vó hoặc giăng lưới mùng. Những bầy cá tôm tích thoát được bàn tay của con người thì men theo các ngõ lên đồng, trở thành những con cá rô đồng béo ngon, hấp dẫn vào mùa gặt. Những con rô con mùa nước lụt lại trở thành nguồn nguyên liệu để làm mắm cá rô đồng vào mùa nước rút. Mùa lụt, nhà nhà tha hồ ăn cá rô tôm tích với đủ món chế biến dân dã mà ngon nhớ đời, như cá rô tôm tích chiên giòn hoặc lăn bột chiên, hấp cuốn bánh tráng, kho mắm đồng hay đơn giản như kho quẹt mỡ hành đều ngon…

Qua mùa cá tôm tích, lúc này các loại cá nước ngọt trên sông đã có nhiều. Buổi sáng, tôi thường hay đi nhấp cá lóc dài theo con lộ nhỏ ven sông, hoặc giăng lưới, cắm câu, đặt lờ, đặt lọp… Nếu chịu khó một chút thì lúc nào nhà cũng không thiếu cá đồng.

Khi những cơn mưa cuối mùa kết thúc thì gió bấc bắt đầu thổi về. Theo chế độ thuỷ triều và theo mực nước trên sông Trẹm xuống dần, nước mặn từ biển dần xâm nhập vào sông. Thời điểm ấy là con sông dần chuyển sang mùa nước mặn. Dòng sông Trẹm lại có nhiều loài thuỷ sản của nước mặn, như cá chẽm, cá đối, cá rô biển, cá nâu… và dĩ nhiên là có nhiều tôm tép với cua biển theo nguồn nước mặn vào sông sinh sôi. Khi dòng sông vào mùa nước mặn thì dụng cụ bắt tôm cá của bà con cũng thay đổi theo. Nhiều giàn lưới cá chẽm hay lưới cá đối được bủa ngay trên dòng sông, chứ không phải ven bờ như lưới cá đồng. Nhưng có lẽ dòng sông trở nên nhộn nhịp nhất là vào ban đêm. Những chiếc đèn đó, rồi đèn vó đặt tép giăng giăng dọc theo bờ sông, xen những chiếc đèn di chuyển của xuồng đi trễ tạo cho người ta cảm nhận là dòng sông Trẹm vẫn không ngủ và vắt sức mình cho cuộc mưu sinh của người dân mà miền sông nước cưu mang… Nhà có vài miệng đó, vài chiếc vó, và một đêm thức trắng trong mùa nước mặn là có thể kiếm được chục ký tép bạc. Dĩ nhiên là đem bán ở chợ. Mùa lúa đã gặt xong, dòng sông Trẹm mùa nước mặn cũng là nơi mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho đời sống người nông dân.

Đến khi những trận mưa lớn đầu mùa làm nổi nước đồng, dòng sông lại chuyển mình sang mùa nước ngọt. Bước chuyển mình ấy, tôi nghĩ  không nhẹ nhàng chút nào, mà cảm tưởng như dòng sông oằn mình gánh chịu một sự trở mình để chuyển sang trạng thái mới trong sự tuần hoàn của thiên nhiên… Đó là khi những cơn mưa đầu mùa trút xuống, nước mưa hoà vào nước mặn trên sông làm cho nước “đổ phèn” vàng chạch. Bị thay đổi nguồn nước, tôm cá trên sông bị “sốc”, dật dờ dạt vào ven bờ, có khi bơi xuồng mà bắt. Dân quê tôi gọi khoảng thời gian chừng tuần lễ chuyển mùa như thế, là “mùa cá dại” trên sông.

Tôi chưa kể về một dụng cụ bắt cá tôm mà cả 2 mùa nước mặn hay nước ngọt trên sông đều có. Đó là những cái nò. Nò làm bằng nhiều tấm đăng sậy, bện bằng dây choại khô. Ven bờ ở một khúc sông nào đó, những người có kinh nghiệm nhìn là biết luồng cá di chuyển, và đặt những tấm đăng theo bộ khung là những cây tre dài, hoặc cây tràm tuỳ theo vị trí và độ sâu ven sông, với nhiều lớp “thiên la địa võng” nhưng bài bản, để cuối cùng cá lần theo đăng khi di chuyển, chui vào rọ mà bắt. Làm nò thì có thể nói là mùa nào, trên sông có loại gì thì bắt được loại đó. Những con to như cá chẽm, cá lóc, cá rô, đến cá đối, tôm càng, cua biển… Những người dân ở ven sông, nhưng không phải ai cũng rành làm nò, bởi nếu xây nò không đúng kỹ thuật hay không hợp vị trí, thì cũng chẳng bắt được bao nhiêu tôm cá. Những người nổi tiếng về xây nò ở Thới Bình mà tôi biết và còn nhớ đến giờ, những ông “vua nò” chính hiệu, như ông Ba Trộm nhà ở gần đình Thới Bình (nay ông đã mất), và ông Tư Hiếm, hiện vẫn còn sống, nhà ở vàm Rạch Ông. Ngày xưa, nò của người nào, ở vị trí khúc sông nào, thì như mặc định là vị trí ấy thuộc về người đó làm nò, không ai xâm lấn.

Bây giờ trên dòng sông Trẹm quê tôi, nhiều phương tiện, dụng cụ bắt cá tôm như ngày xưa không còn nữa. Những thế hệ sau tôi không còn biết những cái nò, những chiếc đó đặt tép, những chiếc xuồng trễ ban đêm, những ánh đèn dầu hoả lấp lánh trong đêm tối… trên con sông Trẹm quê nhà. Kể cả những tấm hình trên mạng cũng không tìm thấy. Có lẽ ngày nay, nguồn cá tôm trên sông đã cạn kiệt, biến đổi khí hậu làm cho mùa lụt hàng năm nước không còn lên cao, tràn đồng…  Và người ta dần tìm ra những cách bắt tôm cá đơn giản và hiệu quả hơn để thay thế cách của ngày xưa đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp.

Dòng sông Trẹm bây giờ lặng lẽ và trơ trọi, như đã lặng lẽ làm điểm tựa sinh sống cho những cư dân từ đời này sang đời khác. Và mùa lụt năm nay, tôi đọc tin khí tượng thuỷ văn cho biết lượng mưa trên nguồn không nhiều, không biết nước lụt có dâng tràn đồng hay không, để dòng sông chở màu nước đỏ phù sa và những đàn cá rô tôm tích từ rừng về bồi đắp, bổ sung cho cuộc sống của người dân miền sông nước quê tôi…

Nguyễn Sông Trẹm

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.