Thứ bảy, 29-8-26 13:08:56
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Người thương binh 6 lần dũng sĩ

Báo Cà Mau (CMO) Đánh tàu sắt, bắn máy bay, đánh đồn, diệt bộ binh, chống càn… Chiến đấu ở địa hình đồng bằng, trên sông rạch, vùng sình lầy, nơi rừng đước… Bị thương vẫn hăng say đánh giặc và lập được nhiều chiến công lớn… Người đang nói đến là ông Phạm Quốc Quân, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn U Minh 2.

Ông Phạm Quốc Quân kể chuyện chiến đấu.

Tôi nói với ông, “thành tích chú nhiều quá con đâm bối rối không biết viết thế nào?”.

Ông bảo:

- Thì cháu cứ ghi như những gì chú kể. Chú cũng muốn công khai cho anh em, đồng đội đọc và thừa nhận, để người ta khỏi nói mình thêm thắt, tô hồng…

Chuyện của ông nghe cả ngày chưa hết, mà dung lượng bài báo thì có hạn, không thể nào chuyển tải đầy đủ được...

Đó là lần thứ ba tôi gặp ông, vào một ngày đầu đông năm 2017. Ông nói, “mấy hôm nay trời trở lạnh, chú bị đau nhức và tăng huyết áp quá!”.

Lần đầu tôi đến, cách đó 3 tuần, ông vừa nằm viện hơn 2 tháng về. Lần đó, ông bị cắt bỏ 1 bên tinh hoàn do miểng đạn nằm trong bìu làm độc. Ông nói, “trong người chú từ đầu tới chân có gần 20 vết thương, giờ còn nhiều miểng đạn. Thỉnh thoảng có một cục u bướu nổi lên đau nhức, mổ ra là có miểng đạn. Chụp phim phát hiện riêng trong bụng còn tới 3-4 miếng  miểng. Trời mưa, thời tiết lạnh là nó hành hạ đau nhức suốt. Chắc sau này chú chết trong mùa mưa”.

Dù phải vật vã chống chọi với thương tật trong suốt hơn 40 năm qua, sức khoẻ bị giám định còn 0%, xếp vào mút hạng (thương binh 1/4), lại thêm nhiều lần tiểu phẫu, đại phẫu cắt bỏ thêm các bộ phận trên cơ thể do ảnh hưởng từ các vết thương, sức khoẻ ngày càng bị bào mòn, nhưng ông nói chuyện về bệnh tật vẫn thản nhiên. Có lẽ nhờ vậy mà ông mới đánh vật được với những cơn đau trong suốt mấy chục năm qua.

Càng nghe ông kể chuyện chiến đấu, càng ngộ ra, với một người mà cái chết còn xem nhẹ, “ém nhẹm” thương tích để đi đánh trận thì quả là bệnh tật khó quật ngã được tinh thần.

6 lần bị thương, 6 lần dũng sĩ

Ông bị thương cả thảy 6 lần, trong đó có 2 lần nặng nhất. Lần đầu vào tháng 3/1968, trong trận diệt đồn Cầu Sắt. Khi đó ông vừa từ xã Nguyễn Huân được rút lên huyện Duyên Hải (Năm Căn) làm Trung đội trưởng bộ binh. Ông bị 1 viên đạn trúng vào sống mũi trổ qua gò má làm hư nặng mắt trái.

Ông kể, vết thương mắt bị nung mủ, lỗ dò dưới mắt mỗi ngày nặn ra từ 1-2 giọt mủ lợn cợn máu bầm. Bác sĩ nói phải lên tuyến trên mới giải quyết được. Trong điều kiện chưa đi điều trị được thì đề nghị khi về đơn vị công tác nhẹ hoặc chuyển làm công tác đoàn thể. Nhưng về đơn vị ông “ém nhẹm” yêu cầu của bác sĩ để được tiếp tục đi chiến đấu. Nhiều lần đi điều nghiên, bị con thiêu thân bay vào mắt còn lại, là nằm chịu trận đợi đồng đội tới giúp.

Bấy giờ, nhờ dũng cảm, mưu trí trong chỉ huy và trực tiếp chiến đấu, ông lần  lượt  được Tỉnh đội đề bạt làm cán bộ tác huấn Huyện đội và giữ chức vụ Huyện đội phó. Dù vậy, ông vẫn thường xuyên trực tiếp làm tổ trưởng đi chiến đấu.      

Sau Mậu Thân 1968, trước tình hình quân địch tăng cường máy bay, tàu chiến, binh lực, hoả lực phản công dữ dội, không thể đối đầu, ông sáng kiến ra cách đánh nhỏ lẻ độc đáo. Ông làm mô hình nhà lợp lá, phơi quần áo làm mục tiêu “nhử” kéo máy bay địch đến để bắn. Và tăng cường huấn luyện kỹ thuật bắn máy bay, đánh tàu.

Sáng sớm ngày 28/1/1969, bọn địch “mắc bẫy”. Chiếc L19 (máy bay trinh sát) đến quần đảo khu vực nhà “nhử” tại xóm rẫy Kinh Ba, ấp Ngã Quát, xã Năm Căn (nay là xã Hàm Rồng), sau đó phóng pháo chỉ điểm. Liền sau đó, 2 chiếc F5 (máy bay tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ lúc ấy) bay đến thay nhau thả bom xuống khu nhà “nhử”. Ông dùng súng bán tự động Mỹ (Garant) nhắm vào chiếc F5 đang bổ nhào đầu tiên, bắn liên tiếp hết 8 viên đạn. Cùng lúc, 2 tiếng bom nổ kinh hoàng. Lúc này 1 chiếc F5 bốc cháy, dần hạ thấp độ cao bay một đoạn rồi rơi ở mé biển Đông. Tên phi công Mỹ thiệt mạng.

Chiếc F5 còn lại cất lên cao rồi bay về căn cứ. Ông bị sức ép của bom bất tỉnh tại trận địa, được đồng đội cấp cứu tỉnh lại. Đây là trận đầu tiên ông được tặng danh hiệu “Dũng sĩ hạ máy bay”.

Ông nói, có những trận chuẩn bị công phu, nhưng có những trận cũng hết sức đơn giản, như trận ngày 29/8/1969.  Khi ấy đơn vị đi công tác, chỉ còn ông và 1 chiến sĩ ở hậu cứ. Sáng sớm, 1 chiếc L19 đến quần đảo khu vực xóm rẫy ấp Ngã Quát. Ông rủ anh chiến sĩ “đi bắn chim sắt về ăn cơm chơi”. Anh này nói chỉ còn 1 khẩu trung liên, 13 viên đạn, sao đủ bắn. Ông nói: “Với trình độ bắn máy bay của anh em mình thì cần gì nhiều đạn”.

Rồi 2 người nhanh chóng đem súng xuống xuồng chèo đến khu đất rẫy. Lúc này, chiếc L19 ném trái khói màu chỉ điểm, liền sau đó, 2 chiếc trực thăng bay tới hạ xuống khu đất trống (cách đó khoảng 70 mét) chuẩn bị đổ quân. Ông liền bắn thẳng vào đầu 2 chiếc trực thăng khi chúng chưa chạm đất. Bị trúng đạn, nó lảo đảo bay lên khói lửa bốc cháy mịt mù lao về hướng mũi Cà Mau và rơi ở đó.

 Trận này ông được tặng danh hiệu “Dũng sĩ hạ máy bay” lần thứ 2 và “Dũng sĩ diệt nguỵ”.

Tôi thầm nghĩ, ông nói vậy chứ không đơn giản. Bởi đâu phải ai cũng có gan xách súng đi bắn máy bay. Chưa kể còn kỹ thuật đặt súng, kỹ thuật bắn, sự linh động, mưu trí xử lý các tình huống phát sinh…

Và lần đó, ông cũng gian nan lắm mới bảo toàn mạng sống về đến đơn vị. Ông kể, “sau khi 2 chiếc máy bay cháy, chiếc L19 quay lại phóng pháo chỉ điểm, 2 chiếc trực thăng khác quần đảo bắn anh em chú gần tiếng đồng hồ. Chiếc xuồng lủng mười mấy lỗ. Lúc đó tận dụng xuồng làm công sự lặn trốn dưới lườn xuồng. Đi bất ngờ, khi chú bị thương chân chạm tới xương đâu có gì băng bó, phải xé áo ra cột vết thương. Đợi chúng bỏ đi mới nhanh chóng về trạm quân y gần đó điều trị”.

Cứ như thế, gác qua thương tật hành hạ hằng ngày ở mắt, ông lao vào đánh hết trận này đến trận khác. Nhờ bản lĩnh, gan dạ, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, ông liên tục giành thắng lợi. Có thể nói, năm 1969 là năm “được mùa” của ông với 5 lần được phong danh hiệu dũng sĩ, gồm: Dũng sĩ diệt nguỵ (2 lần); Dũng sĩ diệt tàu; Dũng sĩ hạ máy bay (2 lần).

Sang đầu năm 1970, ông còn lập thêm thành tích “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Bấy giờ, đường liên lạc của ta qua kinh xáng Cái Ngay bị địch phát hiện. Chúng cho tàu cao tốc với 12 lính Mỹ thường neo đậu, ém quân biệt kích ở đó. Huyện đội giao nhiệm vụ ông “xử lý”. Sau khi thực địa, ông cùng 2 chiến sĩ dùng 1 bệ phóng đạn B40 4 quả, đặt bệ phóng trên chiếc bè nổi kết bằng bập dừa nước, cặm cây cho bệ lên xuống theo nước lớn nước ròng tại con kinh nhỏ trên tuyến kinh xáng Cái Ngay. Ông cho các chiến sĩ lui xuồng về vị trí phía sau 500 m và chờ. Một mình ông ở lại phục kích. 4 giờ sáng ngày 26/1/1970, tàu cao tốc từ hướng Chi khu Đầm Cùng chạy tới. Khi chạm mục tiêu, ông điểm hoả. 4 quả B40 cắm vào mạn tàu phát nổ dữ dội, khói lửa bốc lên mù mịt. Ông nhanh chóng rút về xuồng có đồng đội đang chờ sẵn.

Sau đó, theo tin báo của cơ sở mật, chiếc cao tốc của địch bị cháy hết phần trên, chỉ còn lườn tàu, toàn bộ quân Mỹ trên tàu đều chết hết.              

Tháng 10/1970, ông được Tỉnh đội Cà Mau rút về Tiểu đoàn U Minh 2  làm đại đội phó, sau là Tiểu đoàn phó, Tham mưu trưởng. Ông tiếp tục có điều kiện bộc lộ tài năng quân sự trên chiến trường.  

Gần cuối năm 1973, trong một trận đụng độ bất ngờ với địch, ông bị thương rất nặng: trúng đạn cả 2 chân chạm tới xương, thủng bụng, đứt chót gan, thủng dạ dày và đứt 1 đoạn ruột non phải vào Quân y tỉnh cấp cứu. Sau khi điều trị tạm ổn, ông lại xin về đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Nặng tình đồng đội, nặng nghĩa đồng bào

Vào sáng ngày 18/12/1969, địch đổ quân xuống xóm rẫy ấp Ngã Quát, nơi đặt Văn phòng Huyện đội Duyên Hải và có kho vũ khí dã chiến. Lúc đó anh em đều đi công tác, chỉ còn anh thương binh cụt 1 chân làm văn thư ở cơ quan. Ông từ đơn vị vừa về tới cơ quan thì phát hiện tốp trực thăng đổ quân xuống. Ông vội vào kho dã chiến lấy khẩu đại liên 30, 1 dây đạn 100 viên ra công sự, bắn thẳng vào tốp trực thăng. 2 chiếc đầu bị trúng đạn bốc cháy, lảo đảo cất lên bay về hướng Cà Mau. Đang bắn, khẩu đại liên kẹt đạn, ông nhanh chóng vác súng ém xuống kinh và chạy vào cơ quan dìu anh thương binh vào rừng tránh giặc sát hại.

Dìu được một đoạn vào khuất rừng thì thấy bọn địch xông vào Văn phòng Huyện đội. Có lẽ lùng sụt tìm diệt cán bộ, chiến sĩ ta không được, bọn chúng đốt văn phòng và phá huỷ kho vũ khí dã chiến (chỉ còn vài quả mìn định hướng, một ít thủ pháo) rồi lên trực thăng rút lui.

Người thương binh đó chính là ông Cao Minh Tiến, sau giải phóng là Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ Năm Căn. Hiện đã nghỉ hưu và là Chủ tịch Hội Khuyến học huyện Năm Căn.

“Chuyện cảm động nhất là lúc đó địch chỉ cách chúng tôi khoảng 50 m. Hàng trăm tên đang hò hét, càn ruồng, nã đạn. Tôi nhiều lần yêu cầu đồng chí Quân chạy nhanh tránh giặc, nếu có chết thì chỉ mình tôi chết. Nhưng đồng chí Quân nhất quyết không nghe, cố gắng dìu kéo tôi đi mà không nghĩ gì đến tính mạng mình... Đến bây giờ, mỗi lần nhớ lại việc đồng chí không kể thân mình cứu sống tôi trong khoảnh khắc cái chết cận kề đó, tôi rất biết ơn đồng chí”, ông Cao Minh Tiến xúc động chia sẻ.

Một điều mà ông Quân bao giờ cũng lưu tâm khi tiến hành các trận đánh là đặc biệt tìm những phương án ít đổ máu cho anh em chiến sĩ. Ông bộc bạch: “Cha mẹ nuôi con mười mấy năm, giao cho mình chỉ huy đánh giặc. Mình nắm trong tay sinh mạng của bao người. Vì vậy, mệnh lệnh ban ra phải hết sức sáng suốt, sơ suất thì bao nhiêu xương máu cán bộ chiến sĩ phải đổ, mình có tội với anh em, có tội với gia đình, người thân họ”.

Ông trần tình, cho tới bây giờ ông vẫn còn thấy áy náy một chuyện. Đó là vào năm 1969, ngoài rải chất độc hoá học, địch còn cho dân phá rừng đước, hòng triệt tiêu căn cứ cách mạng. Hằng ngày, chúng cho từ 800-1.000 chiếc xuồng ghe lớn nhỏ đi đốn củi  phá  rừng. Chúng luôn cho 2 tàu sắt chở đầy quân hỗ trợ những người phá rừng tránh ta ngăn chặn. Tháng 11/1969, ông được phân công cùng đồng đội nghiên cứu địa hình, chọn cách thích hợp để đánh tàu, làm thất bại âm mưu của địch.

Ông cùng 1 chiến sĩ và 1 y tá thực hiện trận đánh. Sau khi đặt trái ba-zơ-min chứa 60 kg thuốc nổ xong, ông cho 2 đồng đội lùi xa trận địa trên 400 m, còn mình ở lại chờ tàu địch tới để điểm hoả. Không may, khi tàu chạm mục tiêu, ông kéo dây nhưng trái không nổ. Đợi tàu địch đi qua, ông kiểm tra mới biết do dùng dây gân bị giãn.

Lội trở lại xuồng, ông cùng đồng đội đi tìm nhà dân vùng Kinh Năm (xã Hiệp Tùng ngày nay) xin dây chì. Gặp được tiệm tạp hoá có bán dây chì, ông bàn với chị chủ tiệm xin ăn bữa cơm và mua chịu 30 m dây chì để đánh tàu. Chị chủ nhà nói: “Nếu ngày mai các em đánh chìm chiếc tàu đó thì chị tặng 30 m dây chì luôn, khỏi trả tiền. Chị cũng đãi cho anh em ăn bữa cơm”.

Khoảng 4 giờ sáng hôm sau, ông tiếp cận trận địa cũ, thay dây, đặt trái và nguỵ trang ngồi chờ. Khi tàu chạm mục tiêu, ông kéo dây, một tiếng nổ lớn phát ra, khói lửa mịt mù. Chiếc tàu phía sau trờ tới nổ súng, phun xăng đặc, bắn M79 dây, đại liên hết sức dữ dội. Tiếp đó, thêm 2 chiếc trực thăng vũ trang đến phóng pháo, bắn trả quyết liệt.

Do địch phản kích ngày đêm, ông và đồng đội đến 5 ngày mới về tới đơn vị. Mấy ngày sau, Huyện uỷ gửi thư khen ngợi và cho biết chiếc tàu địch bị gãy làm đôi nằm dưới kinh xáng, địch chết khoảng 50 tên. Ông và đồng đội được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt ngụy” và “Dũng sĩ diệt tàu”.

 Trận đánh này đã làm thất bại mưu đồ phá rừng, phá căn cứ cách mạng vô cùng thâm độc của địch. Suốt mấy tháng sau đó, chúng không còn đưa dân đi phá rừng nữa.

“Điều tôi áy náy là chưa trở lại cảm ơn được chị chủ tiệm tặng dây chì và cho anh em ăn cơm trong lúc đói. Mãi sau này hỏi thăm, nghe ngóng, cố ý tìm vẫn không có tin tức mình chiến thắng địch được là nhờ dựa vào dân, được dân đùm bọc, giúp đỡ. Hôm ấy không có mấy chục mét dây chì của chị thì làm sao mà đánh tàu được”, ông từ tốn chia sẻ.

Đã trải qua 70 năm cuộc đời, từng dạn dày với chiến trường bom đạn, nhưng người cựu chiến binh ngồi trước mặt tôi không hề có diện mạo “dữ dằn, ghê gớm”. Ông trải lòng: “Mình đi chiến đấu là hoàn cảnh bắt buộc, muốn giải phóng đất nước, quê hương, chứ phải đâu vì thành tích...”.

Nhà ông nằm tại số 119, Trần Hưng Đạo, Phường 5, TP Cà Mau. Một ngôi nhà cấp 4 khiêm nhường nép mình bên các toà nhà cao tầng, trên con đường “VIP" luôn ào ồn, náo nhiệt. Trong ngôi nhà ấy, ngày ngày có 1 thương binh “mút hạng” âm thầm đánh vật với những cơn đau do thương tích chiến tranh. Bên cạnh ông là sự tận tình chăm sóc, sẻ chia của người vợ hiền bao dung, chung thuỷ. Bệnh tật nhưng vẫn lạc quan, bởi ông thấy mình còn may mắn hơn nhiều đồng đội được trở về bên người thân, được nhìn thấy đất nước hoà bình. Dù phải chịu nhiều thua thiệt về sức khoẻ, nhưng gần 20 vết thương để đổi lấy hoà bình, thì với ông, sự đánh đổi này không là vô nghĩa.

Trang Anh

 Ông Phạm Quốc Quân sinh năm 1948, nguyên quán ấp Tân Long A, xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi; là con thứ 9 trong gia đình có 8/9 anh chị em tham gia cách mạng. Cha là ông Phạm Trần Trinh, cán bộ lão thành cách mạng. Từ năm 1965-1967, ông là du kích, Xã đội phó Nguyễn Huân, vào Đảng năm 1967. Từ 1968-1970, Trung đội trưởng, Huyện đội phó huyện Duyên Hải. Từ 1970-1975, Đại đội phó, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn U Minh 2. Sau giải phóng, ông được phong quân hàm Đại uý, giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn U Minh 2. Tháng 2/1978, vì lý do sức khoẻ, ông được biệt phái công tác tại Ty Thương binh và Xã hội tỉnh Minh Hải làm công tác chính sách hậu phương quân đội. Ông nghỉ hưu năm 1989.
Ông được đồng đội đặt mệnh danh "nhiều cái nhất”: Huyện đội phó trẻ nhất (21 tuổi). Tiểu đoàn phó trẻ nhất (25 tuổi). Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất (27 tuổi).
Gần 10 năm tham gia chiến đấu, ông đánh địch trên 60 trận, tự mình tiêu diệt trên 80 tên, có 12 tên Mỹ; bắn rơi 3 máy bay, cháy 2 chiếc; đánh chìm 1 tàu cao tốc, 1 tàu mặt dựng; thu trên 20 khẩu súng và nhiều quân trang quân dụng khác. 6 lần được phong danh hiệu “dũng sĩ”; được tặng thưởng 6 huân chương các loại; 3 huy hiệu; trên 10 bằng khen, hơn 20 giấy khen về thành tích chiến đấu. Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

 

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.