Thứ tư, 19-8-26 02:13:53
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Thời xuồng chèo khó quên

Báo Cà Mau (CMO) Tôi vốn thích nghi phương tiện xuồng chèo vùng sông nước Cà Mau hơn chục năm. Thế mà, đến trưa 1/5/1975, sau chuyến cùng hành quân trên sông Tân Ðức, Rạch Muỗi, Rạch Rập từ phía Nam tiến ra tiếp quản thị xã Cà Mau giải phóng, tôi “đành thất nghiệp”, ngưng hẳn việc đi lại bằng xuồng chèo...

Bình yên sông nước Cà Mau. Ảnh: HUỲNH LÂM

Thời kháng chiến, những năm công tác ở huyện, với chiếc xuồng be tám và cặp chèo tràm, tôi đã đi công tác một mình và đi với các anh gần giáp địa bàn. Ðáng nhớ, nhiều chuyến xuyên rừng tràm U Minh Hạ về xã Khánh Lâm, đến căn cứ làng rừng Khánh An và hơn một năm sau, tôi ngồi xuồng giao liên tỉnh (Hai Hoả) về tới vùng rẫy thơm Biển Bạch (Thới Bình).

Kỷ niệm Tết Mậu Thân 1968, tôi được phân công chèo chiếc xuồng be tám chở 3 khạp đựng tài liệu, di chuyển từ kinh Ðòn Dong lên tới nhà ông Tư Ðồ, gần cản Mười Châu, bờ Bắc Kinh Cũ. Tôi đi một mình và đi ngay trong đêm 30, trước giờ giao thừa... Nhà thơ Thanh Giang (Văn nghệ “R”) có lần nhắc: “Mậu Thân 1968 là đỉnh cao của sự chấp hành mệnh lệnh…”, bằng ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”… Thay vì đi đường thẳng - kinh Chống Mỹ, gần hơn, anh Tám Cẩn phân công, lại còn gợi ý tôi phải đi một vòng xa lắc... Từ kinh Ðòn Dong vào Kinh Ngang, thẳng lên, qua ngang Vườn Giữa, ra Cơi Ba chèo lên, tới ngã tư Chín Rỗ, rẽ phải chèo thẳng ra Kinh Cũ. Hồi ấy, tôi là chàng trai 18 tuổi, vừa mấy tháng xa nhà, thoát ly theo kháng chiến, còn non choẹt...

Mùa hè 1972, tôi được phân công đi học Trường Thông tấn Báo chí miền Tây Nam Bộ ở rừng đước Năm Căn. Chuyến ra khỏi địa bàn huyện lần đầu này, tôi ngồi xuồng của anh em giao liên huyện và tỉnh, vượt Sông Ðốc, qua lộ xe, qua sông Bảy Háp tới Trường Ninh Bình ở Bào Dừa. Từ đây, lúc chiều tôi được bố trí xuống ngồi xuồng của anh Hai Tần và chị Hồng Sự ở Ban Tuyên huấn huyện Cái Nước, nhập cùng đoàn học viên hành quân bằng xuồng chèo về căn cứ trường lớp ở rừng đước Năm Căn. Chị Hồng Sự (1950-2011), người con gái Rau Dừa, nét đẹp, mặc áo trắng, ngồi trước mũi xuồng cầm cây dầm bơi… Giây phút mới quen, tôi gọi bằng chị, Hồng Sự lên tiếng:

- Chị cái gì mà chị!

Nhưng khi về già, có lần gặp lại, Hồng Sự gọi tôi bằng tên, vì cả hai đứa tôi cùng tuổi mà.

Năm 1973, khi được rút về tỉnh làm phóng viên tập sự báo Cà Mau, hoạt động địa bàn rộng lớn và cũng chiếc xuồng be tám, cặp chèo đước, tôi đã dần quen nhiều chuyến công tác. Ban đầu đi với em Châu Thanh Hải (khắc gỗ), sau đó tôi được phân công đi một mình, từ Giáp Nước qua Cống Ðá lộ xe, qua sông Bảy Háp, xuống tận kinh Ông Ðơn... Và những chuyến công tác khá xa, như đi với Mười Lai từ Giáp Nước sang Tân Thuận, đến căn cứ Ðồng Giác, huyện Tư Kháng cũ, gởi xuồng lại bến, đi theo anh giao liên huyện Giá Rai lần dây hàng cột đáy vượt sông Gành Hào, lội bộ trong cánh rừng và vượt kinh xáng Hộ Phòng về Giá Rai, Long Ðiền Tây vào mùa lúa cấy năm 1973...

Thời chiến, nhiều anh “cưng chiếc xuồng như cưng vợ…”. Nhà báo Nguyễn Mai viết: “Trong những lúc đi công tác, tôi yêu nhất một người, đó không phải là con gái mà là một… chiếc xuồng! Người tôi yêu thứ hai - cũng không phải là con gái, mà là một người bạn trai tên là Nguyễn Kiên Ðịnh (6/4/1964)”. Trong phim tài liệu Nhà báo Nguyễn Mai (1998), anh Nguyễn Kiên Ðịnh nhớ, kể lại: “Có lần đi công tác, thấy chiếc xuồng của dân bị đội cừ lúc nước ròng. Anh em đều đứng nhìn. Chỉ có Nhà báo Nguyễn Mai - Phan Trường Thọ, xăn quần lội xuống bùn, dỡ chiếc xuồng lên, bỏ xuống khỏi cây cừ…”.

Kỷ niệm thuở đi xuồng chèo 2 người qua vùng Sông Ðốc thời chiến, khi chiều mưa lắc rắc, gió tê buốt thịt da, phải vượt qua cánh đồng “chó ngáp”..., anh Nguyễn Kiên Ðịnh làm bài thơ “Gửi cô gái vùng ven” (1996). Bài thơ có đoạn như sau:

Ðường xa có những lúc

Ta phải đổi phiên chèo

Vô tình chạm vào nhau

Trên xuồng con thế đó!

Năm 1974, tôi với Thanh Sơn đi chung chuyến công tác về huyện Ngọc Hiển (Tư Kháng). Thanh Sơn tên thật Nguyễn Thanh Tao, học sinh ở thành, biết chút ít tiếng Anh, trở về quê vùng giải phóng xã Tân Thuận, được rút thẳng lên Tiểu ban Thông tấn Báo chí Cà Mau... Anh em ở Ðầm Dơi còn nhắc, với tên cúng cơm như vậy nên Sơn viết thư về thăm nhà, câu cuối thường ghi “Con của ba má” là “Tao”. Chuyến đi năm ấy, tôi đứng chèo suốt tuyến đường, chuyến về ra Sông Ðầm lúc ròng sát và nước lớn bắt đầu chảy vào... Tôi gọi Thanh Sơn đổi chèo cho tôi nghỉ tay giây lát. Thanh Sơn nước da ngăm, ít khi cởi mở, nghe có người gọi “Sơn xì ke”, Thanh Sơn chỉ cười... Thanh Sơn đứng chèo, lọng cọng. Chèo được vài trăm mét, Sơn nhờ tôi giúp mở túi bòng lấy ra giùm chiếc khăn rằn. Cứ ngỡ che nắng, đâu ngờ Sơn quấn chiếc khăn vào guốc chèo để cầm cho không bị phồng tay... Chao ôi! Lần duy nhất tôi mới thấy một người chèo xuồng có trình độ “nghiệp dư” như chàng Thanh Sơn, nếu đi một mình sẽ rối tung là cái chắc!

Tôi nhớ một kỷ niệm tuyệt đẹp thời chưa biết yêu. Sau hơn năm được rút lên làm lính tỉnh, tôi có chuyến trở về cơ quan cũ ở huyện nhà. Anh Ba viết lá thư thăm người em vợ đang công tác ở cơ quan X, bảo tôi tìm chuyển tận tay thành chuyện tình cờ mà tôi quen biết Cẩm Vui… Và, khoảng gần 5 tháng chuyển lên Rau Dừa, tôi có chuyến về huyện nhà lần hai - thời điểm chỉ còn 2 tháng 3 ngày nữa là chiến tranh kết thúc... Ðêm trăng 11 tháng Giêng năm Ất Mão 1975, tôi chèo xuồng đi thẳng vào nhà thăm anh chị Ba ở Cơi Nhì, mới hay có dì Ba - má ruột của Cẩm Vui từ một làng quê đồng bằng Giá Rai xuống tận xóm ven rừng này thăm con, cháu... Anh Ba được điều lên làm cán bộ tỉnh cũng vừa về thăm nhà. Và thật tình cờ, Cẩm Vui cũng có mặt ở đây! Năm trước, tôi tìm theo địa chỉ để chuyển giao lá thư của anh Ba đến tận tay Cẩm Vui, lần này dịp tình cờ gặp tại nhà anh chị Ba, nàng quá giang tôi chuyến về cơ quan X. Từ xa lạ thành quen, người con gái xấp xỉ tôi tuổi đời, chỉ gọi tên chứ không dám gọi em... Tôi nghe tim đập rộn ràng, tình cảm dạt dào khó tả... Tôi với Cẩm Vui rời xóm ven rừng, đi trong bóng xế chiều, rồi đi trong đêm vắng, âm thầm... Và, những dòng ký sự thơ này gợi nhớ hình ảnh đẹp như thế hồi thời chiến:

          …Tình cờ, xóm ven rừng tràm

Gặp nàng bên ấy, nàng giang tôi về

          Xế tà qua những vùng quê

Chiều vượt Sông Ðốc lộng bề gió reo...

         Dừng nhà quen giữa xóm nghèo

Nghỉ tay, nàng đến đổi chèo cho tôi

         Mùi con gái phả qua người

Chợt lòng xao xuyến, bồi hồi chuyến đi…

        Ðường xa, biết nói chuyện gì

Lời nàng ri rí… đôi khi gợi tình…

       Tôi quen chèo chống một mình

Nàng quá giang, nàng đẹp xinh lạ thường

       Cuối đầm, vào sông Thị Tường

Tôi còn ước muốn con đường dài thêm

      Xuồng cặp bến, nàng bước lên

Mình tôi lặng lẽ trong đêm một mình...

Còn 1 tháng 12 ngày nữa mới tới ngày 30/4/1975, tôi với anh Mười Thanh - Nhà văn Nguyễn Thanh - rủ nhau đi chung một chuyến công tác về xã Khánh Bình, Trần Văn Thời.

Chiều xuống, anh em tôi mỗi người một chiếc xuồng be tám, cặp chèo đước bóng dợn, từ Xẽo Trê, Rau Dừa chèo vô Biện Tràng, đổ lên Phát Thạnh… Cứ mải miết chèo, bỏ lại phía sau những cụm vườn, những mái nhà trên từng xóm vắng và trổ ra Sông Ðốc, theo con nước lớn về Rạch Cui vàm...

Chèo đi một đỗi xa, anh em dừng lại, nghỉ tay, hút thuốc. Hai chiếc xuồng cặp vào nhau. Nơi đang ngồi nhả khói phì phà trên dòng Sông Ðốc, anh Mười chỉ cho tôi biết:

- Bên này là Lung Thuộc, bên kia là Mương Củi!

Hai bên bờ Sông Ðốc về đêm vắng lặng, nhìn xuống hướng Chi khu Rạch Ráng chỉ thấy một khối đen đặc trong màn đêm. Vài ánh đèn bão ở mấy hàng cột đáy trên sông lấp loé, chập chờn...

Anh em tôi cứ chèo đổ lên theo con nước lớn trên dòng Sông Ðốc. Giờ này chúng tôi nhìn ánh điện thị xã Cà Mau hắt lên thành 2 vệt sáng trắng như đèn pha. Tôi bồi hồi, nghĩ ngợi, chợt nhớ 2 câu thơ của Lê Anh Xuân cảm xúc khi nhìn ánh điện thành phố Sài Gòn cuối năm 1967 mà hệt như cảnh ở đây:

Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy

        Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về!

Chỉ có ngày toàn thắng, cái vầng sáng như nức nở gọi ta về ấy mới thành hiện thực. Nhà thơ Lê Anh Xuân đã hy sinh đợt 2 Mậu Thân 1968, không trở về, không được chứng kiến cảnh chiếc xe tăng quân giải phóng miền Nam húc đổ cánh cổng dinh Ðộc Lập ở Sài Gòn ngày 30/4/1975…

***

Nhớ lại 30 năm trường kỳ kháng chiến, người Cà Mau luôn chắc tay súng, vững tay chèo...

9 năm kháng Pháp thắng lợi, 21 năm chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn ngày 30/4/1975, từng đoàn xuồng chèo đã đưa lực lượng cách mạng, hàng ngàn cán bộ, nhân viên, chiến sĩ ta ra tận kinh Rạch Rập, Giồng Kè, vàm Ô Rô, kinh xáng Phụng Hiệp, Hoà Thành - Tắc Vân, tiến vào tiếp quản thị xã Cà Mau. Và kể từ ngày kết thúc chiến tranh cũng đã kết thúc việc đi công tác bằng xuồng chèo. Lớp lớp xuồng được kéo lên giữ trước nhà đồng bào dọc tuyến kinh Rạch Rập như cuộc huy động đưa xuồng lên bờ, lạ lẫm chưa từng có! Khi dần ổn định vị trí ở thị xã mới giải phóng, các anh chị lần lượt trở qua Rạch Rập hoá giá bán lại cho bà con mấy chục chiếc xuồng, đáng nhớ trong đó có chiếc xuồng be tám 3 lá và cặp chèo đước bóng dợn của tôi!

Gần 10 năm sau ngày giải phóng, tôi từ Bến Tre về thăm người chị ruột ở xóm cuối Kinh Tư, xã Trần Hợi... Lần ấy, tôi ngồi xuồng của mấy cháu gái chở hoa màu, như rau cải, bắp chuối, bông súng... xứ đồng ruộng đi bán ở thị trấn Sông Ðốc, để tôi xuống thăm vợ chồng cháu Hương ở vàm Xẽo Quao... Như còn luyến tiếc thời trai trẻ, ra Sông Ðốc, tôi giành đứng chèo suốt đoạn đường, xuống gần tới cửa biển... Cháu tôi khen:

- Cậu chèo hay quá, không lủi chút nào!

Và hình ảnh từng đoàn cán bộ, chiến sĩ hành quân bằng xuồng chèo đã đi vào lịch sử dân tộc suốt 30 năm trường kỳ kháng chiến (1945-1975) ở vùng sông nước Cà Mau!

 

Nguyễn Minh

 

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.