Thứ bảy, 29-8-26 04:07:45
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Tình làng nghĩa xóm

Báo Cà Mau (CMO) Những ngày giáp hạt, cứ một hai bữa là thấy thằng Tèo đứng chình ình trước cửa nhà tôi, quen mặt tới mức thấy nó mấy con chó không buồn sủa. Tèo trạc tuổi tôi chứ bự con gấp rưỡi, sức khoẻ thì cứ như trâu. Nó ở trần cùi cụi quanh năm, đưa cái bụng chang bang, nước da đen sì với cái rốn lồi ngoại cỡ phơi phơi ngoài nắng. Tèo có thói quen chỉ đi vô cửa nhà sau, đầu đội cái thau gang móp méo, miệng cười nhăn nhở… Nó không nói tiếng nào, chứ má tôi nhìn là hiểu ý liền. Nó qua mượn gạo.

Đi mượn gạo chứ không bao giờ Tèo lên tiếng trước, chờ chủ nhà hỏi nó mới trả lời. Khi năm, khi sáu, có lúc mười lon. Những lúc “tần suất” xuất hiện của thằng Tèo hơi nhặt, má tôi hay kêu mấy chị dâu xúc thêm vài lon so với yêu cầu, khỏi mất công hôm sau nó lại quay sang. Tấm ván so đũa vừng vách chỗ khạp gạo trong nhà bếp chi chít vết gạch bằng than củi; một ô vuông gạch chéo là năm lon, đó là số gạo nhà thằng Tèo mượn chưa trả. Năm nào hạn càng dai là số lượng ô vuông càng nhiều, có khi dài như cái sớ.

Chuyện đi mượn gạo không phải của một mình thằng Tèo, mà cả xóm tôi hồi xưa, hầu như ai cũng trải qua. Ở nông thôn, gạo không phải là hàng hoá, nên trong nhà hết, muốn mua cũng không có. Nông dân lúc nào cũng sẵn lúa, thấy khạp lưng gạo thì đi xúc vài bao, vác xuống xuồng chở đi chà, đem về ăn tiếp.

MH: Kiều Loan

Người đi chà gạo thì nhiều mà số lượng máy chà chỉ đếm trên đầu ngón tay, thế mới có chuyện đem lúa lại nhà máy rồi phải gửi lại, chủ máy cho cái số thứ tự, sớm thì bữa sau, muộn thì đôi ba ngày mới "tới số chà gạo". Những ngày chờ đợi, nếu trong nhà hết gạo thì cắp thau, đội thúng qua hàng xóm mượn về nấu đỡ. Mượn qua mượn lại, ai cũng vui vẻ giúp nhau. Nhà nghèo như ba má thằng Tèo thì mượn gạo thường xuyên bởi phải chạy ăn từng bữa. Lắm khi, không có gạo trả thì qua nhà chủ nợ làm việc gì đó để trừ. Nói nghe có vẻ nặng nề chứ thật ra chẳng có gì to tát, vì cái tình cái nghĩa láng giềng lúc nào cũng như bát nước đầy. Thương nhau không hết, hơi đâu mà sân si, hờn giận.

Không biết chỗ khác thì sao, chứ ở xứ tôi “hễ cái gì đem đi được là cho mượn được”. Sắp Tết là vào mùa cưới hỏi, nên cái vụ mượn đồ của nhau cũng náo nhiệt hơn. Mỗi khi nhà ai có đám tiệc là cánh thanh niên kéo tới rần rần, rồi tự động lấy xuồng về nhà chở ván ngựa qua cho mượn. Đám hồi đó không bắc bàn ghế như bây giờ mà người ta kê ván ngựa liền kề nhau, thành từng dãy dài cho quan khách ngồi. Hết đám, đem chùi rửa sạch sẽ, lật mặt dưới lên xem ghi tên của nhà nào thì chở lại trả cho nhà đó.

Đàn ông bao chuyện nặng nhọc, phụ nữ thì lo bếp núc. Biết hàng xóm có đám là tự động “lội” qua, tay cầm theo cây dao, nhào vô bếp phụ việc. Người có tài chỉ huy thì làm “thợ nấu”, giao việc cho tay em, người lo khâu rau củ, người bằm thịt, người bắt mâm, trang trí, con nít thì lo bưng bê, sai vặt… Tất cả diễn ra nhịp nhàng và không kém phần khoa học.

Tôi hồi đó, nhờ đi học võ vẽ đôi ba chữ nên hay được hàng xóm mượn vẽ bảng “tân hôn”, “vu quy” treo đám. Có nhà còn bài bản tới mức chuẩn bị cái bảng, nhờ người chữ đẹp viết những dòng nắn nót, phân công rạch ròi ai lo khâu đón khách, ai chịu phần trà nước… Tới đoạn đưa, rước dâu thì phải đi mượn vài chiếc xuồng máy; mượn chiếu bông lót ngồi, rồi mượn cả mấy cây dù cho cô dâu, chú rể và thành viên trong đoàn che nắng.

Cây cầu khỉ trước nhà tôi xưa là nơi tụ họp của tụi con nít, chờ coi xuồng đưa rước dâu. Biết đầu trên, xóm dưới có đám cưới, đám gả là cả đám ra ngồi chờ sẵn; hễ nghe tiếng máy, xuồng xuất hiện xa xa là reo hò, rồi hộc tốc chạy đuổi theo cho đến khi… hết hơi mới thôi. Tới bây giờ, cái cảnh xuồng rước dâu chở đầy nam thanh nữ tú xúng xính quần áo mới, che những cây dù đủ màu sặc sỡ… chạy băng băng trên sông vẫn là một phần ký ức khó quên. Mấy anh trai làng, thấy đi đưa rước dâu, cầm dù che cho chị nào một vài lần, thì y như rằng không bao lâu hai người trở thành… cô dâu, chú rể.

Mùa cưới gả, nam nữ tới tuổi cặp kê thường qua hàng xóm mượn cái bàn ủi con gà về đốt than ủi đồ láng bóng. Thậm chí, người ta còn hỏi mượn đồ “vía” của nhau như quần áo, đồng hồ, dép lào, nón nỉ… để đi “cua ghệ”. Anh trai tôi hồi xưa có cái quần tây rất đẹp, cưng như trứng mỏng mà thằng cháu trạc tuổi cứ hỏi mượn hoài. Cháu nhà nghèo, ở xứ xa xuống Cà Mau làm mướn rồi để ý một cô ở xóm bên. Cứ vài ngày lại mò qua òn ỉ mượn… cái quần của chú Tư để đi chơi. Khổ thân ông anh tôi, vì thương thằng cháu nên khó lòng từ chối. Có bữa tính diện đồ đẹp đi chơi, cháu hỏi mượn thì nhường luôn. Tới nó cưới được cô kia thì cái quần đã rách vài lỗ. Sau này, cháu hay nhắc chuyện cũ, cảm ơn hồi xưa nhờ chú cho… mượn quần mà cưới được vợ hiền, sanh con thảo.

Cà Mau là xứ sông nước, cái thời lộ làng chưa phát triển thì phương tiện đi lại chủ yếu là chiếc xuồng ba lá. Ban đầu chèo, sau này đặt máy đuôi tôm. Tuy nhiên, không phải nhà nào cũng mua được chiếc xuồng cho đàng hoàng, nên khi cần đi đâu xa phải chạy qua hỏi mượn của hàng xóm. Xuồng, máy cũ không nói gì, chứ đồ mới toanh mà đem cho mượn thì trong bụng cũng “xót xót”, không cho mượn bị mang tiếng “làm hiểm” với láng giềng còn tệ hơn. Xóm tôi có ông kia nảy ra “sáng kiến” mua xuồng máy mỗi lần một cặp, cái gia đình xài, cái thì để dành cho mượn. Chất chơi đến thế là cùng.

Đồ mình ưng ý, cho mượn xài thì xót là tâm lý bộc phát một cách tự nhiên, chứ không phản ánh bản tính của người Cà Mau, vốn đã được công nhận là trượng nghĩa và hào sảng. Tôi biết có nhiều người cho người khác mượn đất cất nhà, cho mượn đất đai canh tác, bạc tiền làm vốn… mà không mảy may suy nghĩ thiệt hơn. Rồi có những thứ, biết đưa ra là sẽ mất nhưng vẫn sẵn lòng cho mượn. Má tôi hay kể, hồi xưa ba tôi đã nhiều lần cho cán bộ kháng chiến mượn xuồng chở người, chở vật liệu, khí tài… có người còn mượn tiền, tới giờ vẫn còn giấy biên nhận. Khi hoà bình, có người gợi ý đi làm giấy báo công, ba tôi chỉ cười chứ quyết không làm. Ông xem đó như là đóng góp của công dân cho đất nước.

Có những gia đình nghèo, người thân qua đời phải đi mượn ván ngựa của hàng xóm để đóng hòm chôn. Biết cho mượn là người ta không có khả năng trả, nhưng ít có ai lắc đầu từ chối. Kể vậy để thấy rằng, cái tình cái nghĩa giữa người với người dân quê tôi đã vượt qua những đắn đo về lợi ích vật chất đơn thuần, có lẽ phải qua quá trình hun đúc nhiều đời mới có được.

Còn nhớ cũng vào một dịp gần Tết, tôi có chuyến công tác về ngay xã nhà. Mọi việc xong xuôi, các chú cựu chiến binh tổ chức bữa cơm thân mật thết đãi hai “thằng em nhà báo”. Rượu vào lời ra, anh đồng nghiệp đi chung giới thiệu tôi là người xứ này. Nghe chuyện, có một chú ngoài bảy mươi từ bàn bên bước qua. Chú nhìn tôi chằm chằm rồi lẳng lặng gom ba cái ly trên bàn, xề qua bàn gần đó lấy thêm ba cái nữa. Chú đặt ba cái ly ngay ngắn trước mặt mình, rồi rót. Rượu tràn sóng sánh miệng ly, chú lấy chiếc đũa làm động tác gạt ngang, y như người ta gạt lúa trên miệng táo. Cái ly bụng bầu, thường ngày người ta để uống trà, nay đem rót rượu. Rót hơi cao một chút đã “quá hớp”, đàng này rượu lên tới miệng, nhìn thôi đã ngán rồi. Chú lẳng lặng uống cạn ba ly, không chừa lại giọt nào, rồi rót ba ly như vậy cho tôi, bắt phải uống cho kỳ hết.

Chờ tôi uống xong, chú mới giới thiệu: “Tao với ba mày hồi xưa làm ní. Mày giống hệt ba mày, nghe nói là chú nhìn ra ngay”. Lúc đó, tôi mới nhận ra chú Bảy, chú ruột của thằng Tèo “mượn gạo” hồi xưa. Chú Bảy trước cũng nghèo và chơi khá thân với ba tôi. Lâu rồi không gặp nên tôi nhất thời không nhận ra chú.

Chú Bảy nắm tay tôi, bồi hồi ôn lại chuyện cũ, nhắc về cái nghĩa, cái tình của người dân quê xưa. Chú bảo: “Mừng là tụi nhỏ bây giờ vẫn sống có nghĩa có tình, cái này tiền muôn bạc vạn cũng không mua được đâu, cháu à!”.

Tôi lắng nghe, mà như uống vào lòng từng lời của chú Bảy. Chợt nghĩ, ba ly rượu chú rót khi nãy cũng giống những bát nước đầy sóng sánh, y như cách người dân quê đối đãi với nhau vậy đó!

 

Tuấn Ngọc

 

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.