Thứ ba, 15-9-26 19:53:59
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Khoa học - công nghệ tiếp sức nông dân sản xuất hàng hoá

Báo Cà Mau Kỹ sư Nguyễn Văn Tranh, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết, ngành nông nghiệp và người nông dân đang được cho là đối tượng dễ bị tổn thương, yếu thế khi Việt Nam bước vào hội nhập, đặc biệt là khi Hiệp định TPP được ký kết. Khi vào hội nhập, sản xuất nhỏ lẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí phá sản.

Kỹ sư Nguyễn Văn Tranh, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết, ngành nông nghiệp và người nông dân đang được cho là đối tượng dễ bị tổn thương, yếu thế khi Việt Nam bước vào hội nhập, đặc biệt là khi Hiệp định TPP được ký kết. Khi vào hội nhập, sản xuất nhỏ lẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí phá sản.

Để sản xuất phát triển, nông dân phải thay đổi tư duy sản xuất theo hướng ứng dụng khoa học - công nghệ, sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, đảm bảo an toàn theo hướng bền vững thì mới có khả năng cạnh tranh trong sân chơi toàn cầu.

Anh Nguyễn Hiền Thức, xã Quách Văn Phẩm, huyện Đầm Dơi, áp dụng khoa học - kỹ thuật vào nuôi tôm thâm canh năng suất cao.

Anh Nguyễn Hiền Thức, ấp Lung Trường, xã Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi, chuyển gần 1 ha đất nuôi tôm thâm canh truyền thống sang áp dụng khoa học - công nghệ cao vào nuôi tôm thâm canh năng suất cao. Anh Thức cho biết, mô hình nuôi tôm thâm canh năng suất cao, chi phí đầu tư ban đầu tuy có cao hơn so với nuôi tôm thâm canh theo kiểu truyền thống, do chi phí đầu tư làm nhà lưới, lót bạt dưới đáy ao, lắp đặt hệ thống quạt, ô-xy đáy, hệ thống dây chuyền cho tôm ăn...  nhưng có thể thả tôm nuôi với mật độ dày.

Trung bình mật độ thả nuôi từ 250-300 con/m2, ngày cho ăn 4 lần. Sau thời gian từ 100-105 ngày thả nuôi là có thể thu hoạch, tôm đạt kích cỡ trung bình 30 con/kg, năng suất đạt gần 60 tấn/ha, lợi nhuận gần 500 triệu đồng/ao nuôi 1.200 m2, tăng gấp 3 lần so với nuôi tôm thâm canh truyền thống trước đây.

Điều quan trọng, áp dụng khoa học - kỹ thuật nuôi tôm thâm canh năng suất cao trong nhà lưới, đáy ao có lót bạt, sử dụng các chế phẩm sinh học, không sử dụng chất kháng sinh trong quá trình nuôi có nhiều ưu điểm như dễ kiểm soát dịch bệnh, tôm nuôi tăng trưởng khá nhanh, đặc biệt là tôm thương phẩm sau thu hoạch bóng và đẹp, đạt tiêu chuẩn tôm sạch, nên được các công ty chế biến tôm xuất khẩu thu mua với giá cao, phù hợp với xu thế hội nhập. Hiện nay, anh đang tiếp tục ứng dụng khoa học - kỹ thuật để từng bước giảm giá thành sản xuất để con tôm Việt Nam cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Không chỉ có áp dụng khoa học - kỹ thuật vào nuôi tôm mà có trên 9.056 hộ nông dân đã áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP trong cánh đồng lớn trên 10.748 ha. Anh Nguyễn Văn Việt, ấp 19/5, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, cho biết: “Nhà tôi có 1,3 ha đất ruộng tham gia vào cánh đồng lớn (CĐL) từ năm 2012 đến nay, năng suất, chất lượng lúa cao hơn hẳn so với phương pháp sản xuất truyền thống nên chúng tôi mừng lắm. Trước đây, bước vào vụ lúa là lo đến mất ăn mất ngủ, lo làm sao để thuê người làm đất, người cấy, người phun thuốc sâu cho kịp thời vụ, rồi đến lúc gặt, có khi giá nhân công cao cũng không thể thuê được người. Giờ thì khác rồi, cấy, cày, làm đất, gặt đã có máy, giống được Nhà nước hỗ trợ một phần, nông dân chỉ cần bỏ thêm công làm cỏ và lấy nước mỗi khi đến lịch thời vụ”.

Ông Quách Minh Quốc, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thú y, nhận định, trước khi gia nhập TPP, bên cạnh khó khăn thì cơ hội vàng để ngành chăn nuôi nhanh chóng quy hoạch lại sản xuất, hạ giá thành các sản phẩm, kể cả các sản phẩm có lợi thế, sản phẩm đặc sản, bản địa… đồng thời kiểm soát tốt an toàn thực phẩm. Trong chăn nuôi gia súc, tỷ lệ đàn được nạc hoá cao, đáp ứng được yêu cầu người tiêu dùng. Chăn nuôi gia cầm được đánh giá là khó khăn, bởi nuôi gà công nghiệp sẽ bị cạnh tranh quyết liệt nhất, song thịt gà công nghiệp cũng chỉ đang có 20-25% thị phần tiêu thụ ở Việt Nam, còn chủ yếu là thịt gà của các giống địa phương, của gà lông màu nuôi chăn thả.

Kỹ sư Nguyễn Văn Tranh cho biết thêm, trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún và nhỏ lẻ, sản phẩm làm ra chất lượng chưa cao, để thành công khi hội nhập, một trong những yếu tố cần thiết và phải đặt lên hàng đầu là cần có hệ thống liên kết nông dân thành các tổ hợp tác, hay hợp tác xã sản xuất với quy mô lớn, nhất là tập trung thực hiện theo đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong thời gian tới.

Theo ông Nguyễn Thanh Trường, Giám đốc Xí nghiệp Chế biến gạo xuất khẩu Thới Bình, thuộc Tổng Công ty Lương thực miền Nam, song song với áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, ngành nông nghiệp cũng cần hình thành và phát triển hệ thống các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản và cung ứng nguồn lực đầu vào cho sản xuất nông nghiệp. Áp dụng khoa học - kỹ thuật mới sẽ đóng vai trò “nhạc trưởng” hướng dẫn nông dân, liên kết nông dân với nhau để tạo chuỗi giá trị mặt hàng nông sản khép kín, an toàn. Không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn xuất khẩu sang các thị trường khó tính, từ đó mang lại nguồn thu nhập ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nông dân./.

Bài và ảnh: Trúc Ly

Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Sáng 11/9, Đoàn giám sát Ban Kinh tế - Ngân sách, HĐND tỉnh Cà Mau do bà Vũ Hồng Như Yến, Trưởng Ban, làm trưởng đoàn làm việc với các sở, ban, ngành về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân.

Chủ tịch UBND tỉnh khảo sát mô hình sản xuất tại xã Khánh Hưng

Sáng 11/9, đoàn công tác tỉnh do đồng chí Lữ Quang Ngời, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, làm trưởng đoàn đã khảo sát một số mô hình sản xuất và dự khánh thành cầu giao thông nông thôn trên địa bàn xã Khánh Hưng.

Phát huy thế mạnh thuỷ sản, tạo dư địa tăng trưởng

Làm việc với 2 xã Định Thành và An Trạch về tình hình thực hiện nhiệm vụ, thúc đẩy tăng trưởng khu vực I vào ngày 10/9, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Sử yêu cầu các địa phương phát huy thế mạnh thuỷ sản, nhất là nuôi tôm; tập trung nâng cao năng suất, sản lượng, đa dạng hoá mô hình, nâng cao giá trị sản phẩm; xây dựng dự án liên kết vùng nuôi tôm quảng canh cải tiến đạt chuẩn, lồng ghép các nguồn lực đầu tư, tạo dư địa tăng trưởng.

Không chạy theo số lượng, chú trọng nâng chất hoạt động hợp tác xã

Phát triển kinh tế tập thể, HTX phải đi vào thực chất, lấy hiệu quả kinh tế và lợi ích của thành viên làm trung tâm. Thời gian qua, công tác lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực này ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức, việc triển khai từ tỉnh đến cơ sở còn thiếu đồng bộ. Vì vậy, cần xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành và có giải pháp cụ thể, sát thực tế.

Tập trung thực hiện nhiệm vụ tăng trưởng hai con số

Mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 ở mức 10% đang đặt Cà Mau trước yêu cầu rất cao trong những tháng cuối năm. Trong quý II, GRDP của tỉnh tăng 7,12%, khoảng cách còn lại đòi hỏi từng người đứng đầu, từng ngành, địa phương phải tăng tốc, khai thác tốt hơn các nguồn lực đang có và tạo thêm giá trị từ sản xuất, kinh doanh.

Cần giải pháp quyết liệt để kinh tế tư nhân bứt phá

Ngày 9/9, Đoàn giám sát Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh Cà Mau do bà Vũ Hồng Như Yến, Trưởng Ban, làm trưởng đoàn có buổi làm việc với UBND phường Bạc Liêu về tình hình thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Nỗ lực để các chỉ tiêu khu vực I đều đạt và vượt

Tiếp tục chương trình công tác, chiều 9/9, đồng chí Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, làm việc với UBND xã Hưng Mỹ và xã Cái Nước về tình hình triển khai nhiệm vụ phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng khu vực I.

Cấp lúa giống, vật tư hỗ trợ nông dân sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp

Xã Trần Văn Thời vừa cấp phát hơn 105 tấn lúa giống và vật tư cho hơn 240 hộ dân tham gia mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại các ấp vùng ngọt, chuẩn bị cho vụ lúa đông xuân 2026-2027.

Tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng khu vực I

Sáng 9/9, tại xã Tân Ân, đồng chí Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, có buổi làm việc với lãnh đạo hai xã Tân Ân và Phan Ngọc Hiển về tình hình thực hiện nhiệm vụ, thúc đẩy tăng trưởng khu vực I.

Biến vật liệu nạo vét thành nguồn lực tài nguyên

Cà Mau là địa phương có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc, với khoảng 14.000 km, cùng hơn 310 km bờ biển, nhiều cửa sông, cửa biển và hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất, giao thông thuỷ, phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún đất, xâm nhập mặn, suy giảm nguồn bùn cát từ thượng nguồn và diễn biến bồi - xói ngày càng phức tạp, nhiều tuyến kênh, cửa sông, cửa biển nhanh chóng bị bồi lắng, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát nước, giao thông thuỷ, sản xuất và đời sống người dân.