Thứ năm, 18-6-26 19:11:39
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Sống đẹp với lòng nhân

Báo Cà Mau (CMO) Chuyện bà Tư Lệ (Nguyễn Thị Lệ, ngụ Ấp 2, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời) đi mót lúa, hái rau làm từ thiện đã không còn xa lạ với người dân ở đây. Điều trân quý, cảm phục ở người phụ nữ này là bà giúp đỡ người khác ngay cả khi gia đình mình cũng không khá giả gì.

Trưa. Nắng như đổ lửa. Mồ hôi ướt đẫm chiếc áo khoác bạc màu. Bà Tư vẫn lặng lẽ một mình giữa cánh đồng mênh mông, lưng lom khom, đôi tay thoăn thoắt lần theo gốc rạ nhặt từng bông lúa. Bà mót lúa sau khi người ta thu hoạch rơi vãi, mang về phơi, bán lấy tiền, tích cóp giúp những người nghèo khó hơn mình.

Vui gánh cuộc đời

Đi mót lúa đã cực nhưng đoạn đường mang lúa về còn cực hơn vì bà đi bộ chứ không biết chạy xe. Được chừng 10 kg lúa là bà Tư phải khệ nệ mang về nhà, đổ ra sân phơi cho kịp nắng rồi lại tiếp tục ra đồng mót tiếp. Bà đi từ cánh đồng gần nhà cho đến tận cánh đồng cuối ấp. Với nụ cười thật tươi, bà Tư khoe: “Hổm rày tôi mót được trên 100 kg rồi, đang phơi. Lúa này bán được 6 ngàn một ký”.

Bà Tư Lệ trên cánh đồng bao la giữa trưa hè nắng gắt nhặt từng bông lúa còn sót lại để dành làm từ thiện.

Mùa nào việc nấy. Hết đi mót lúa, mùa hạn, bà Tư đi cắt rau muống đồng bán. Ở Ấp 2 này mọi người quá quen thuộc với chuyện bà Tư đầu tắt mặt tối đi làm kiếm từng đồng để làm từ thiện nên ai cũng vui, nếu nhà mình gặt lúa là cho bà Tư biết ngày, hay đám rau muống ngoài đồng đã lên xanh. Khi lúa không còn, rau chưa kịp vươn ngọn, bà Tư đi cắt rau mướn, dặm lúa mướn, làm cỏ mướn. Công cắt 1 kg rau là 1 ngàn đồng, làm cỏ được trả 7 ngàn đồng mỗi giờ. Ai thuê gì làm nấy, nhưng tất cả số tiền kiếm được, bà Tư đều mang tặng cho láng giềng đang trong cơn bĩ cực.

Mót được ít lúa, bà Tư tranh thủ mang về phơi cho kịp nắng.

Chị Nguyễn Thị Phượng, hàng xóm bà Tư Lệ, bộc bạch: “Dì Tư sống rất chan hòa, quan tâm đến mọi người xung quanh. Có hôm đi mót lúa hay hái rau ở nhà tôi, đến trưa tôi chừa phần cơm cho dì ăn, rồi nghỉ ngơi lại nhà tôi, chiều đi làm tiếp khỏi mất công về nhà xa. Mỗi khi thu hoạch rau, tôi đều gọi Dì Tư qua làm. Dì ấy làm cực khổ mà không bao giờ than vãn, lúc nào cũng cười nói vui vẻ. Làm được bao nhiêu tiền là giúp đỡ người khác hết".

Dáng người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, nụ cười tươi, gương mặt phúc hậu, ở bà Tư Lệ luôn toát ra vẻ lạc quan, yêu đời. Nhìn bề ngoài, ít ai ngờ được cuộc đời bà Tư đã trải qua vô vàng gập gềnh. Bà Tư so sánh: “Đời tôi khổ như cái tên Lệ của tôi vậy. Khóc hết nước mắt rồi”.

Năm 23 tuổi, bà Tư Lệ lấy chồng. Sống với nhau hơn 3 năm, được 2 mặt con, người chồng âm thầm bỏ đi biền biệt với người phụ nữ khác. 3 mẹ con sống trong cảnh bơ vơ, không đất, không nhà, không nghề nghiệp. Bà Tư Lệ nhớ lại: “Lúc đó, con tôi mới được một, hai tuổi mà tôi đành phải để con khát sữa, thiếu sự chăm sóc, đi làm thuê để 3 mẹ con có cái ăn. Thiếu thốn trăm bề, 2 đứa con, đứa nào cũng ốm trơ xương. Thằng Út bị nhiễm chất độc da cam, thần kinh không được bình thường, cơ thể ốm yếu, tật nguyền, bệnh tật triền miên. Có lúc tôi muốn tự tử cho rồi vì tủi cho đời mình sao khổ quá nhưng nghĩ đến các con nên tôi mới có động lực để sống tiếp”.

Lây lất qua ngày, rồi đến khoảng năm 1990, bà Tư Lệ được Nhà nước cấp 2 công ruộng tại Ấp 2, xã Khánh Bình Đông. Nhận đất, bà Tư Lệ mừng rơi nước mắt, bởi ít nhất, từ đây bà cũng đã có chỗ cất nhà che mưa che nắng, có kế sinh nhai cho 3 mẹ con. Bà Tư Lệ chăm chỉ làm lụng, trồng màu, nuôi heo, đặt rượu… quyết tâm làm để nuôi con khôn lớn và quên đi nỗi buồn riêng.

Nhưng cuộc đời vẫn còn muốn thử thách lòng kiên trì của bà một lần nữa. Bà Tư nhớ như in, vào một ngày năm 2012, con trai Út của bà (anh Nguyễn Việt Hà) bị bể ruột thừa phải chuyển lên bệnh viện ở TP. Hồ Chí Minh mổ khẩn cấp. Cùng lúc đó, bác sĩ cho hay con bà bị khô thận, sạn thận, sạn bàng quang phải mổ gấp với số tiền trên 50 triệu đồng. Vay mượn của bà con hàng xóm vẫn không đủ tiền, còn nước còn tát, bà Tư cố 1 công đất chữa trị cho con.

Bao tháng trời cùng con trai chống chọi với bệnh tật nơi bệnh viện, bà Tư chi tiêu dè dặt từng đồng, ăn cơm từ thiện, ngủ hành lang bệnh viện mới mong đủ tiền trả viện phí. Trong hoàn cảnh đó, bà vẫn thấy phần nào ấm áp tình người bởi bà nhận được rất nhiều sự động viên, chia sẻ của những người xung quanh. Bà Tư không cầm được nước mắt mỗi khi nhận được tiền của bà con hàng xóm Ấp 2, của chùa chiền, của các tổ chức đoàn thể gom góp gởi lên cho bà.

Gieo những mầm nhân

Rồi sức khỏe của anh Hà dần hồi phục trong tình yêu thương, chăm sóc của mẹ, sự đùm bọc, sẻ chia của bà con lối xóm. Sau trận cấp cứu đó, anh Hà dần hồi phục và còn khỏe mạnh hơn trước khi phẫu thuật. Kể từ đó, anh Hà xin mẹ theo chị của mình đi làm việc ở TP. Hồ Chí Minh cho đến nay.

Nhìn con khỏe mạnh, có thể tự làm việc nuôi thân, bà Tư Lệ quên hết bao nỗi buồn phiền, vất vả, lo toan. Để chia sẻ gánh nặng với gia đình, con gái lớn của bà Tư đã sát cánh cùng bà làm lụng kiếm tiền trả nợ và chuộc đất. Từ năm 2012 đến nay, cứ đều đặn hằng tháng, con gái bà Tư đều gởi tiền về cho mẹ trả dần số nợ. Giờ đây, không chỉ chuộc lại đất, bà Tư còn sang nhượng thêm được 1 công đất vườn. Bà Tư cười mãn nguyện: “Đất này để dành cho thằng Hà, sau này tôi có chết thì còn đất, còn nhà cho nó ở. Tội nghiệp nó thiệt thòi, bệnh tật từ nhỏ. Chị Hai nó thì đã có cuộc sống ổn định rồi, tôi cũng nhẹ lo”.

Từ sau khi con trai hết bệnh, bà Tư Lệ bắt đầu âm thầm làm từ thiện, vì hơn ai hết bà thấu hiểu được nỗi khốn khổ khi lâm vào cảnh túng quẩn là thế nào. Bà Tư Lệ bộc bạch: “Lúc tôi khổ, người ta giúp tôi mà không đòi hỏi tôi phải trả ơn. Bây giờ tôi đi làm kiếm tiền giúp lại người khác, dù không nhiều nhưng đó là tấm lòng của tôi. Tôi làm vất vả thiệt, nhưng nghĩ tới chuyện giúp được người khác còn khó khăn hơn mình thì tôi không còn mệt nữa”.

Ông Nguyễn Văn Thiệt, cùng ngụ Ấp 2, xã Khánh Bình Đông, bày tỏ: “Tôi leo dừa té, bị liệt nửa người nằm một chỗ gần 4 năm nay. Chị Tư hay ghé thăm tôi lắm, hỏi thăm, động viên, trò chuyện cho tôi đỡ buồn. Tết năm rồi chị còn cho tôi 200 ngàn đồng. Rồi chị đi vận động, ai cho gì là mang đến đưa vợ tôi liền. Chị Tư hiền, sống đạo đức lắm”.

Thấy việc bà Tư làm có ý nghĩa nên hiện trong xóm có thêm 3 người bạn của bà Tư cùng tham gia đóng góp và vận động đóng góp làm từ thiện. Hễ nghe ở đâu có người bệnh nặng hay hoàn cảnh khó khăn là nhóm của bà Tư tìm đến giúp đỡ. Mỗi tháng, nhóm còn ủng hộ 50 kg gạo cho nồi cháo từ thiện của Bệnh viện đa khoa huyện Trần Văn Thời.

Ông Dương Văn Lọ, Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin xã Khánh Bình Đông, nhận xét: “So với nhiều hộ xung quanh, hoàn cảnh của chị Tư còn nhiều khó khăn. Ở đây ai cũng biết và thương chị. Nhưng quý nhất là chị không nghĩ cho mình, không đòi hỏi chính quyền phải lo cho mình mà nhường phần Nhà nước hỗ trợ cho người khác. Chị Tư còn đi làm kiếm tiền giúp người khó khăn hơn mình. Nhiều nạn nhân chất độc da cam trong ấp cũng được chị vận động cho tiền, gạo, quần áo”.
Tiếp tục với kế hoạch kiếm tiền làm từ thiện, bà Tư Lệ khoe: “Vài ngày nữa mót lúa xong, tôi lên Sài Gòn thăm con trai, con gái. Năm nào cũng vậy, mỗi khi lên thăm tụi nó là tui xin vào công ty làm thêm, 1 ngày cũng kiếm được 100 ngàn đồng chứ ít đâu. Rồi thứ Bảy, Chủ nhật tôi gói bánh ú, trút giá bán cho công nhân trong dãy tập thể. Mỗi chuyến thăm con, tranh thủ làm được vài triệu đồng, mang về giúp cho những người khổ hơn mình. Tôi thấy rất vui”.

Cho đi là nhận lại. Bà Tư không nhận lại bằng vật chất, thứ mà bà nhận lại không thể cân, đo, đong, đếm nhưng nó giá trị gấp ngàn lần. Đó là tình người, niềm tin cuộc sống; đó là sự lạc quan, yêu đời, thanh thản trong tâm hồn.

Bút ký của Kiều Oanh

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.