Chủ nhật, 20-9-26 15:01:33
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Thầy tiếc cây kim máy hơn những giọt máu

Báo Cà Mau Cách đây 40 năm, đó là những ngày cuối của năm 1974, tại lớp học của cô Bình ở Bào Dừa, hai chị em của em là Huỳnh Lê và Huỳnh Ðào nhập học. Do vào trường những ngày gần Tết nên khi thầy, cô may đồ Tết cho các bạn, 2 em không có phần vải. Nghe cô Bình bàn với thầy Trung: “Sẽ tận dụng vải bên hông, cắt ống hẹp lại để mót cho Huỳnh Lê, Huỳnh Ðào đứa một cái quần”, em mừng vô cùng! Ðồ Tết của tụi em là một cái quần ni-lông đen.

Cách đây 40 năm, đó là những ngày cuối của năm 1974, tại lớp học của cô Bình ở Bào Dừa, hai chị em của em là Huỳnh Lê và Huỳnh Ðào nhập học. Do vào trường những ngày gần Tết nên khi thầy, cô may đồ Tết cho các bạn, 2 em không có phần vải. Nghe cô Bình bàn với thầy Trung: “Sẽ tận dụng vải bên hông, cắt ống hẹp lại để mót cho Huỳnh Lê, Huỳnh Ðào đứa một cái quần”, em mừng vô cùng! Ðồ Tết của tụi em là một cái quần ni-lông đen.

Buổi sáng, thầy, cô đi dạy, tụi em đi học. Trưa về cô Bình cắt, thầy Ða và thầy Trung may. May luôn đến đêm để còn kịp phát cho tụi em về mặc Tết. Cắt, may ngay tại chỗ ở của cô Bình (cô ở chung với tất cả bọn con gái tụi em). Ngày Tết gần kề, sợ đồ may không kịp nên chiều chạng vạng hôm đó, cô nói: “Hai thầy may đua đi cho nhanh”. Hai thầy đồng ý.

Thầy Ða nói: “Tôi may một cái quần trong 10 phút”.

Thầy Trung bảo: “Tôi may trong 7 phút”.

Thầy Ða: “Tôi may trong 5 phút”.           

Thầy Trung: “Ðồng ý luôn. Tôi may quần Lý Kim Tiến”.

Thầy Ða: “Tôi may quần Huỳnh Ðào, nhỏ hơn, may mau thắng ông chắc luôn”. Chị Huệ đi đốt thêm đèn con cóc và cuộc thi may quần lặng lẽ trong đêm bên ánh đèn dầu được bắt đầu. Cô Bình vừa là thợ cắt vừa là trọng tài, mấy đứa con gái tụi em ngồi bên bộ vạt đối diện với thầy, cô đang im lặng dõi theo làm cổ động viên cho 2 thầy. Em nôn nóng đồ mới quá, nên đã bước xuống đất đi tới, đi lui, chỉ mong thầy Ða may xong là mặc thử liền.   

Bỗng, rốp! Một tiếng động nhỏ đủ phá tan sự im lặng. “Kim gãy Bình ơi!”, thầy Ða hốt hoảng la lên. Thầy Trung liền hỏi: “Có sao hôn?”. Không có tiếng trả lời. Tất cả chúng em hướng mắt nhìn thầy Ða, rồi nhìn chỗ cây kim máy của thầy. Cây kim đã gãy đôi, nửa phần dưới đâm thẳng vào đầu ngón tay trỏ trái của thầy, phần còn lại còn dính trong máy may.

Thầy dùng tay phải lăn bánh xe đầu máy, nhấc chân vịt, gỡ phần trên kim ra rồi thầy mới rút phần kim bị gãy còn đang đâm ở đầu ngón tay ra. Máu ứa ra nhiễu liền giọt trên bàn máy, cô Bình quýnh lên, vội đi tìm vải băng cho thầy. Còn thầy thì cứ cầm 2 khúc gãy của cây kim đem so lại, kề sát lại, muốn nó dính liền, dù biết đó là điều không thể, mặc cho máu trên đầu ngón tay cứ nhiễu. Trái tim của chúng em se thắt lại vì thương thầy bị đau. Còn thầy mặt buồn rười rượi, vì tiếc cây kim.

Ngày đó chúng em chưa đủ lớn khôn để hiểu rằng, 1 cây kim may máy trước ngày giải phóng là điều không dễ có, và càng chưa hiểu đươc nỗi lo “gãy cây kim sẽ may đồ không kịp cho chúng em mặc Tết”, nỗi lo lớn bao trùm ở trong lòng thầy.

Thưa thầy, đã bốn mươi năm trôi qua, có lẽ thầy không còn nhớ về câu chuyện này? Nhưng câu chuyện rất thật, rất đời thường, bình dị, gần gũi mà vô cùng thiêng liêng cao đẹp về tấm lòng của thầy đã mãi mãi ghi khắc trong lòng của mỗi chúng em trong suốt cuộc đời này.

 Mười năm sau (1984)

Em đang xếp hàng rồng rắn để chờ lãnh cơm ở nhà ăn của Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, bất ngờ thấy thầy từ xa. Em chui vội dưới cây sắt cản ngang bên hông để xếp hàng, chạy về phía thầy, gọi: “Thầy, thầy, thầy, thầy ơi! Thầy…”. Thầy trò nhận ra đang học cùng khoá trong một trường đại học. Em mừng vui quá nên chỉ đứng nhìn, không biết hỏi thêm gì. Chợt thầy hỏi em: “Cái chân bị gì mà cà nhắc vậy?”. “Dạ, hôm qua em đi chợ chiều bị chó cắn”, em trả lời. Thầy hỏi em ở phòng mấy…

Ăn cơm trưa xong được một lúc, nghe có người tìm ngoài cửa, thầy đứng vịn xe đạp tìm em. Thầy nói: “Lên xe thầy chở đi chích ngừa”. Từ trường đến Bệnh viện huyện Thủ Ðức xa tới mấy cây số, vậy mà cứ đến hẹn của bệnh viện, thầy đến chở em đi cho đến đủ 5 lần chích mới thôi. Ở vùng đất đỏ miền Ðông này, buổi trưa nắng như đổ lửa, gió thổi cát và đất đỏ cuộn lên mù mịt, đường dốc cao, chiếc xe đạp của thầy lỏng sên, kêu rẹt… rẹt. Khi lên dốc, thầy cong lưng đạp, những cái dốc cao, dốc dài vắt kiệt sức thầy. Em mong sao nhanh xuống dốc để thầy có thể lấy lại chút sức lực, để rồi lại lên dốc. Nhưng mỗi khi đến đỉnh dốc, thì thầy dừng xe, dẫn bộ xuống. Thầy nói: Xe lỏng sên quá, xuống dốc nguy hiểm lắm, chân em bị đau cứ ngồi im đó. Thầy dẫn xe xuống hết dốc, lại cong lưng đạp lên dốc. Cả đi và về đến 10 lần trên con đường dài này, không có lần nào xe được thả dốc…

Thưa thầy! Thầy là ai? Là cha, là mẹ hay là ông Tiên? Ngày trước khi còn học dưới mái Trường Nội trú Cà Mau - Ninh Bình, thầy, cô đã thay cha, thay mẹ chăm sóc chúng em, còn giờ đây em đã xa tầm tay thầy, cô về với mẹ, cha đã lâu, vậy mà khi em gặp khó khăn, thì tấm lòng bao dung, nhân hậu ấy luôn hiện hữu và dắt dìu, nâng đỡ em…

Không phải chỉ có riêng em, mà các bạn học sinh Trường Nội trú Cà Mau - Ninh Bình em cũng đều được soi sáng bởi tình yêu thương, lòng nhân hậu của thầy. Một việc làm mà với  thầy là rất bình thường: Chở học sinh cũ đi chích ngừa, nhưng thầy chắc không biết rằng, thầy đã cứu sống em. Thầy có biết không, sau đó, con chó cắn em đã chết vì bị dại.

Thưa thầy! Em không có đủ câu từ nào nói hết công ơn của  thầy đối với em, bởi vì đi khắp thế gian này, có mấy ai có được người thầy như thầy của em! Tình cảm và công ơn thầy mãi mãi là hành trang trong em suốt cuộc đời này. Em muốn nói một câu rất chân thành với tất cả mọi người rằng: “Thầy của em là người rất vĩ đại!"./.

Huỳnh Ðào, học sinh khoá 3, 4, Trường Nội trú Cà Mau - Ninh Bình

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.

Những "bông hoa lửa"

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc từng hứng chịu bom đạn, ký ức về những nữ anh hùng dấn thân vì Tổ quốc vẫn còn hiện hữu qua nhiều câu chuyện được truyền lại.

60 năm kiên trung dưới cờ Đảng

6 thập kỷ đứng trong hàng ngũ của Đảng, từng đi qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến ngày non sông thống nhất và hành trình đổi mới của quê hương, đất nước; hôm nay, khi mái đầu đã bạc, các đảng viên lão thành vẫn giữ trọn lời thề với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân.

Giữ lửa trong trái tim tuổi trẻ

Ðã 81 năm trôi qua, hào khí Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 luôn bất diệt trong mỗi trái tim người Việt Nam.

Ký ức những ngày tháng Tám

Hơn 8 thập kỷ đã trôi qua kể từ mùa thu lịch sử năm 1945, những người từng trực tiếp tham gia Cách mạng Tháng Tám nay phần lớn đã ở tuổi xưa nay hiếm. Ký ức có thể phai theo năm tháng, nhưng với ông Trần Quang Thiều, cán bộ tiền khởi nghĩa đang sinh sống tại phường Bạc Liêu, khí thế những ngày tháng sục sôi của mùa thu năm ấy vẫn hiện lên rõ nét qua từng câu chuyện.

Bảy Háp - Dòng sông huyền thoại

Từ kênh xáng Ðội Cường kết nối với sông Gành Hào, cùng những nhánh rẽ, dòng Bảy Háp (hay còn có tên gọi là Bảy Hạp) chở nặng những hạt phù sa từ bờ Ðông sang bồi đắp bờ Tây, dựng lên những bãi bồi, gây rừng ngập mặn, cho đất thêm xanh, cho rừng lấn biển.

Ký ức “địa chỉ đỏ”

Từng công tác ở Văn phòng Tỉnh uỷ thời kháng chiến những năm 1960, tôi vinh dự được làm nhân chứng tháp tùng cùng Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lê Minh Sơn và một số cán bộ về lại Rẫy Mới - kênh Tư Mầu, phía sau sông Mỹ Bình để tìm nhà ông Lê Phương Hồng, nguyên cán bộ tôn giáo vận tỉnh trong thời chống Mỹ. Ðây là chuyến khảo sát địa chỉ đỏ cuối cùng ở xã Phong Lạc và Phong Ðiền (cũ).

Vẹn trọn đạo lý, vững bước tương lai

Những ngày tháng Bảy, mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc như lắng lại trong không khí thiêng liêng của dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; dòng chảy tri ân đang cuộn trào trên khắp quê hương Cà Mau, kết nối lịch sử hào hùng với khát vọng vươn mình của hôm nay.