Thứ tư, 17-6-26 16:15:46
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Ai còn nhớ Xuồng ba lá?

Báo Cà Mau

Hồi đầu năm nay, một anh bạn ở Hãng phim TFS của Đài Truyền hình Sài Gòn “a-lô” cho tôi từ Cà Mau, nhờ tôi tìm giúp một cô gái đội nón lá, mặc áo bà ba, quần lãnh đen, chèo xuồng ba lá. Anh ta đang quay phim tài liệu gì đó. Sau này mới biết, cảnh chèo xuồng mà anh muốn quay là để minh hoạ cho mấy câu thơ:

Ở đây là rừng và biển kề ở đó

Sóng dựng trước vàm trắng xoá trùng khơi

Dáng em nghiêng chèo trong mưa bay lất phất

Áo bà ba cất giấu một chân trời.

Xuồng ba lá là phương tiện lưu thông phổ biến một thời ở vùng sông nước Cà Mau. Ảnh tư liệu

Cà Mau thì người quen của tôi còn nhiều. Nhưng rốt cuộc, mất gần một tuần, tôi cũng không giúp được anh ta. Cô gái thì có, nón lá thì có, áo bà ba cũng có luôn, nhưng chiếc xuồng ba lá kiếm không ra. Xuồng composite na ná như xuồng ba lá thì cũng kiếm được, nhưng không có bổ chèo. Cặp chèo đước bây giờ không phải dễ kiếm. Đành thua. Nếu có một người dân Cà Mau nào đó vượt biên qua Mỹ, nghe được chuyện này chắc họ sẽ sửng sốt tự hỏi: “Cà Mau mà không có xuồng ba lá thì người ta sống cách nào?”.

Miền Tây Nam Bộ là vùng nhiều sông rạch hạng nhứt nước ta. Thế giới cũng không mấy nơi có như vậy. Về khoản sông rạch thì Cà Mau là nhứt miền Tây Nam Bộ. Nhớ chừng chừng thì đâu giữa những năm 1980, tôi có đưa ông nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường xuống tới xóm Mũi. Sau một ngày đường, khi tới nhà chú Ba Nhớ, phát biểu cảm tưởng đầu tiên của ông nhà văn Huế là, sông rạch Cà Mau phức tạp hơn lộ xe của thành phố Sài Gòn. Ở Sài Gòn, lỡ có đi lạc thì còn hỏi để biết đường về. Lạc trong mê cung sông rạch Cà Mau, chỉ có… chết!

Ngày nay, lộ xe đã đi tới mọi nơi trong tỉnh Cà Mau. Thành tựu đáng kinh ngạc này cũng chỉ mới có được chừng hơn ba chục năm trở lại đây thôi. Gần ba trăm năm trước đó, cư dân vùng đất này chỉ di chuyển bằng con đường duy nhứt: thuỷ lộ. Cho nên, ai đã đến đất này, muốn làm người Cà Mau, thì có hai thứ phải biết, là chèo chống và bơi lội.

Không kể những ghe tàu vận chuyển đường xa, có trọng tải lớn, việc đi lại trên sông rạch và đồng ruộng Cà Mau ngày trước gần như chỉ có một loại phương tiện duy nhứt, là xuồng ba lá. Xuồng ba lá có đủ các hạng: nhỏ nhứt là be bảy, rồi đếm dần lên tới be mười. Nhưng chưa hết, còn có be mười kèm, là kèm lên thêm trên hai bên be xuồng hai miếng ván nữa để tăng sức chở. Loại be mười kèm này ước có thể chở được trên dưới một tấn.

Khi một chiếc xuồng be lớn tới tuổi hư rã, người ta có thể lấy ba tấm ván o bế lại để đóng một chiếc xuồng nhỏ hơn. Cứ vậy cho tới khi nó không còn làm xuồng được nữa, thì trở thành cái bàn học cho trẻ con trong những mái trường làng, hay thậm chí thành... máng cho heo ăn. Nói việc này để biết, ván đóng xuồng ba lá không hề có ở rừng Cà Mau. Do không có nên nó luôn là vật hiếm, luôn được tận dụng. Ván để đóng xuồng ba lá được khai thác từ những loài cây của rừng mưa nhiệt đới như miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên hay bên Campuchia. Vên vên, một loài cây nằm trong nhóm họ dầu, là loại gỗ tốt nhứt để đóng xuồng ba lá, vì nó chịu bền trong nước. Có một loại gỗ nữa, rẻ tiền hơn, không bền bằng vên vên, nhưng chịu nước cũng khá tốt, là gòn rừng, một loài cây trong nhóm họ gạo.

Khi những chiếc máy đuôi tôm đầu tiên du nhập vào Cà Mau thì chiếc vỏ lãi còn chưa ra đời. Xuồng ba lá trở thành chiếc xuồng có gắn động cơ đầu tiên. Cũng chẳng phải cải tiến gì nhiều, chỉ cần cưa bớt cái mũi xuồng phía sau cho láp máy đừng vướng, gắn thêm cái bổ máy bằng gỗ, là xong. Về sự kiện này, nếu so với đời sống người thành thị, thì chiếc xuồng ba lá từ “xe đạp” đã lên đời thành “honda”. Nhưng trước khi được lên đời với chiếc máy đuôi tôm, chiếc xuồng ba lá cũng đã được “săn sóc” rất kỹ lưỡng. Việc o bế, trang bị cho chiếc xuồng được nhiều người coi như một thú chơi điệu nghệ: xuồng phải “uống” dầu trong (nhựa cây dầu); sạp xuồng phải từ mũi chí lái; cặp chèo đước phải dịu, bắt nước; quai chèo phải bằng lưới ni-lông; khoang tát nước không có đồ tát nước (xuồng rất khô), cả dây cột xuồng cũng phải được “trang bị” đủ dài.

Trên miền sông nước Cửu Long có đủ thứ xuồng chớ không chỉ có xuồng ba lá: xuồng cui, xuồng tam bản, xuồng năm quăng... Nếu nhờ một người ở đồng bằng sông Cửu Long giùm kể tên các loại xuồng, e rằng khó tìm được ai thống kê đầy đủ. Là do ghe xuồng ở mỗi vùng thường khác nhau, đôi khi khoảng cách cũng không phải xa lắm. Dân Cà Mau đi xuồng ba lá, nhưng dân Cần Thơ thì đi xuồng tam bản, loại xuồng ghép từ nhiều miếng ván, thân ngắn, dày, chắc, nặng.

Vậy tại sao dân Cà Mau chỉ đi xuồng ba lá?

Cà Mau là vùng đất định dạng sau cùng của đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, đất ở đây còn thấp hơn, còn tranh chấp mặn - ngọt. Để giữ nước ngọt làm ruộng, lập vườn, người ta phải đắp đập, xuồng đi tới đập phải kéo qua. Xuồng ba lá nhẹ, dễ kéo. Tam bản nặng, không kéo nổi. Nhưng Cần Thơ thì chẳng có đập ngòi gì, vì đâu cũng nước ngọt, tam bản đi thông thương, lại đằm, không chao lắc. Xem kỹ thì cũng không có gì khó hiểu. Cũng vì lẽ này mà chiếc cầu kéo đập mới xuất hiện đầu tiên trên đất Cà Mau.

Ngày xưa, chèo xuồng trên những dòng sông Cà Mau, dọc triền sông là những rặng dừa nước ngút ngàn. Thỉnh thoảng lại gặp một khoảng trống, đó là bến nước của từng nhà. Ở mỗi bến nước đều có một cái rạp lợp lá de ra mé nước làm nơi đậu xuồng. Mọi cuộc ra đi và trở về của con người ở đây đều bắt đầu và được chờ đợi từ những bến sông này. Sự chờ đợi ấy đôi khi là một kết cuộc hân hoan, nhưng cũng có những kết cuộc ngậm ngùi. Người ra đi cũng có người trở về, nhưng có người không. Những cuộc chia xa nhiều khi rồi quay lại, nhưng không ít khi là mãi mãi. Bởi thế nên người viết bài này cũng đã có lần buộc viết ra mấy câu thơ:

“Giá mờ sương ấy con chim két

Đừng bi bô trộm trái vườn sau

Bến nước em chèo đi mất biệt

Dây xuồng đâu buột khổ đời nhau”.

 

Nguyễn Trọng Tín

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.