Thứ ba, 8-9-26 18:43:53
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Báo Cà Mau Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Ở vùng đất mênh mông sông nước, chằng chịt kênh rạch này, người ta quen gọi cá sơn là thứ cá nhà nghèo. Con cá nhỏ chỉ bằng ngón tay út, trước kia từ các đáy bè, đáy cặm trên sông Cửa Lớn kéo lên nhiều vô kể. Rẻ đến mức có thời chỉ dùng nấu cho heo ăn hoặc làm cá phân bón vuông. Vậy mà giờ đây, từ đôi bàn tay cần cù của vợ chồng chị Chuyển, con cá quê mùa đã thành sản phẩm OCOP mang thương hiệu riêng của vùng đất Đất Mũi.

Cơ sở mắm cá sơn Ngọc Chuyển nằm ven sông Cửa Lớn, nơi gìn giữ hương vị đặc sản miền Đất Mũi từ loài cá dân dã quê biển.

Ngày đầu lập nghiệp, cách đây hơn 25 năm, tài sản của hai vợ chồng cùng tuổi con rồng, cùng sinh năm 1976 này, chỉ vỏn vẹn 30 ngàn đồng. Chừng đó tiền khi ấy đổi được khoảng mười ký cá sơn. Không vốn liếng, không đất đai, anh Trần Quốc Khởi mua ba cây nước đá bán cho các hộ nuôi vuông kiếm lời từng đồng bạc lẻ. Sau đó, vợ chồng mở quán tạp hoá nhỏ, cầm cự qua ngày.

Rồi một hôm, thấy cá sơn rẻ mà thịt lại thơm ngon, chị Chuyển nảy ý định làm mắm. Ban đầu chỉ làm vài hũ ăn trong nhà, biếu bà con chòm xóm. Không ngờ ai ăn cũng khen ngon, người này chỉ người kia tìm tới mua. Từ vài hũ nhỏ ven sông, chị bắt đầu làm nhiều hơn.

Những năm đó, người ta thường thấy đôi vợ chồng chèo xuồng len lỏi qua các chợ quê vùng Năm Căn, Ngọc Hiển để bán từng hũ mắm. Chị ngồi bán, anh chèo xuồng. Hết chợ này qua chợ khác. Có bữa mưa dầm, mắm bán không được, hai vợ chồng ngồi co ro dưới mui xuồng nhìn nước lớn nước ròng mà thở dài. Nhưng rồi vẫn không ai nói lời bỏ cuộc.

Con cá sơn nhỏ xíu nhưng làm cực vô cùng. Mỗi ngày đánh vảy, làm sạch hàng chục ký cá khiến tay chị sưng phồng, rướm máu. Thấy vợ cực, anh Khởi lặng lẽ mày mò chế máy đánh vảy cá bằng điện. Hư lần này sửa lần khác. Có lúc máy làm nát cá, có lúc đánh không sạch vảy, vậy mà anh vẫn kiên trì.

Anh Trần Quốc Khởi lặng lẽ đứng nhìn vợ bên căn bếp nhỏ ven sông Cửa Lớn. Sau những hũ mắm cá sơn đậm đà là nghĩa vợ chồng được chắt chiu qua bao mùa nước lớn nước ròng.

Người đàn ông miền biển đó đâu học trường lớp cơ khí nào. Anh học bằng tình thương dành cho vợ.

Sau nhiều tháng trời, chiếc máy đánh vảy cá sơn “độc nhất vô nhị” cũng thành công, thay sức cho cả chục lao động cùng lúc. Nhưng chưa kịp nhẹ gánh thì lại tới công đoạn rang thính chao mắm.

Suốt một thời gian dài, cứ khoảng 3 giờ sáng, chị Chuyển đã phải thức dậy nhóm lửa rang gạo. Từ khuya đến sáng cũng chỉ rang được vài ký thính. Rang xong lại dùng máy xay sinh tố để xay nhuyễn. Máy hư liên tục vì làm quá công năng. Nhìn vợ đầu tắt mặt tối bên bếp lửa, anh Khởi lại tiếp tục cặm cụi sáng chế.

Lần này là máy rang thính, máy xay thính.

Sau bao lần tưởng chừng bỏ cuộc, cuối cùng anh cũng làm được. Chiếc máy mới giúp rút ngắn thời gian lao động xuống chỉ còn một phần nhỏ so với trước. Mỗi giờ rang được hàng chục ký thính, đủ phục vụ sản xuất quy mô lớn. Người ngoài nhìn vào cứ nghĩ đó là chuyện sáng chế máy móc bình thường. Nhưng với chị Chuyển, đó là nghĩa tình của người chồng dành cho vợ suốt những năm tháng nghèo khó.

Anh Trần Quốc Khởi bên chiếc máy rang thính tự chế, hỗ trợ vợ trong quá trình làm mắm cá sơn tại cơ sở Ngọc Chuyển.  

Nếu chị Chuyển giữ hồn cho từng hũ mắm thì anh Khởi âm thầm giữ sạch cho cả cơ sở. Sau mỗi công đoạn làm cá, muối cá, chao mắm, trộn thính, vô keo, dán nhãn, anh lặng lẽ rửa dụng cụ, lau nền nhà, dọn từng góc nhỏ của khu sản xuất.

Điều đặc biệt là nhiều năm qua, cơ sở gần như không dùng hoá chất diệt ruồi. Với kinh nghiệm của người miền biển, anh dùng nước muối pha loãng xịt quanh khu chế biến, rồi rải muối hột ở những nơi ruồi có thể đậu. Cách làm mộc mạc mà hiệu quả, vừa giữ vệ sinh, vừa giữ được hương vị tự nhiên của mắm quê.

Giữa thời buổi người ta dễ chọn lợi nhuận bằng cách nhanh nhất, vợ chồng chị Chuyển vẫn chọn làm nghề bằng cái tâm chân chất của người miền Tây.

Mắm cá sơn Ngọc Chuyển có vị mặn nhẹ, không ngọt gắt, không chua nhiều. Chị Chuyển nói vui: “Để người ăn tự nêm theo khẩu vị của mình”. Chính cái vị vừa phải đó làm nên nét riêng khó lẫn. Những ai từng ăn một lần mắm Ngọc Chuyển thường nhớ mãi.

Với chị Phan Thị Chuyển, mỗi hũ mắm cá sơn không chỉ là sản phẩm quê nhà mà còn gửi gắm tình yêu và niềm tự hào về hương vị miền biển Đất Mũi.

Con cá nhỏ sau hơn ba tháng muối và chao thính cho ra thứ mắm màu nâu đỏ óng ánh, thơm mùi gạo rang quyện với vị mặn mòi của biển. Khi ăn, thịt cá mềm nhưng không nát, béo nhẹ nơi đầu lưỡi, hậu vị ngọt đậm rất riêng của cá sơn vùng nước lợ Cửa Lớn.

Người miền biển thường ăn mắm cá sơn với cơm nóng, thêm vài lát chuối chát, khế chua, rau rừng hay bần non là đủ hao cơm cả buổi. Có người lại thích chưng mắm với thịt ba rọi, trứng vịt. Khi nồi mắm sôi lên thơm lừng, mùi thính rang quyện cùng vị cá làm dậy cả căn bếp miền Tây những ngày mưa gió. Đó là món ăn của ký ức quê nhà, là hương vị khiến người xa xứ nhớ hoài căn bếp miền Tây.

Mắm cá sơn ăn kèm chuối chát, khế chua, rau đồng và ớt hiểm, món ăn dân dã mang đậm hương vị miền biển Cà Mau.

Từ nghề mắm, gia đình chị Chuyển vươn lên, đồng thời tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 8-10 phụ nữ địa phương. Với chị Đoàn Diệu Tiên, ở ấp Bà Thanh, xã Tân Ân, công việc tại cơ sở mắm giúp chị có thêm thu nhập ổn định để lo cho gia đình.

“Làm gần nhà, có thu nhập đều, chị em tụi tôi mừng lắm. Nhờ chị Chuyển xem mình như người một nhà mà nhiều phụ nữ ở đây có việc làm ổn định hơn”, chị Tiên chia sẻ.

Ghi nhận vai trò của cơ sở, ông Nguyễn Minh Luân, chuyên viên phòng Kinh tế xã Tân Ân cho rằng, điều đáng quý ở chị Chuyển là biết nâng giá trị cho loài cá từng bị xem là “cá bỏ đi”.

Ông Nguyễn Minh Luân, chuyên viên phòng Kinh tế xã Tân Ân, tham quan cơ sở mắm cá sơn Ngọc Chuyển, sản phẩm OCOP đặc trưng của địa phương.

“Từ nguồn nguyên liệu bình thường của địa phương, cơ sở Ngọc Chuyển đã tạo ra sản phẩm OCOP mang bản sắc riêng xã Tân Ân, góp phần quảng bá đặc sản quê hương và tạo việc làm cho lao động nữ nông thôn”, ông Luân nhìn nhận.

Giờ đây, mắm cá sơn Ngọc Chuyển không chỉ có mặt tại Cà Mau mà còn theo những chuyến xe đến nhiều tỉnh, thành trong cả nước, rồi vượt biển sang Mỹ, Canada, Hàn Quốc. Từ loài cá từng bị bỏ quên nơi đáy lưới, cá sơn nay đã trở thành đặc sản mang hương vị riêng của vùng đất địa đầu phương Nam.

Nhưng có lẽ điều quý giá nhất mà vợ chồng chị Phan Thị Chuyển gìn giữ được còn lớn hơn cả một thương hiệu mắm.

Đó là nghĩa vợ chồng sau bao mùa nước lớn nước ròng vẫn vẹn nguyên như thuở đầu nghèo khó. Là hình ảnh anh Trần Quốc Khởi lặng lẽ phía sau, phụ vợ lau rửa từng chiếc thau, sửa từng chiếc máy để vợ bớt nhọc nhằn. Là người phụ nữ tảo tần giữ gìn từng hũ mắm thơm ngon như giữ lấy nghề truyền thống quê hương.

Giữa vùng biển Đông quanh năm mặn mòi gió biển, câu chuyện của họ cũng như vị mắm cá sơn, đậm đà, chân chất và càng thấm sâu theo năm tháng./.

Nguyễn Hoàng Lê

Ảnh: Nguyễn Quốc Hùng

Ðể di sản trở thành nguồn lực phát triển - Bài cuối: Vun bồi cho nguồn lực nội sinh

Là vùng đất hội tụ nhiều lớp trầm tích văn hoá của miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc bảo tồn di sản không chỉ là giữ lại những giá trị của quá khứ, mà quan trọng hơn là vun bồi để di sản tiếp tục sống và tạo ra những giá trị mới mà không đánh mất bản sắc.

Giữ mạch sống đồng quê - Kỳ cuối: Giữ cá hôm nay - Giữ quê ngày mai

Những năm gần đây, cá đồng vùng ngọt Cà Mau ngày một ít dần. Bên cạnh tác động của thời tiết, môi trường, tình trạng khai thác thiếu kiểm soát, nhất là các hình thức tận diệt, khiến nguồn lợi suy giảm.

Giữ mạch sống đồng quê

Ngày trước, cứ mùa mưa, nước tràn đồng là cá theo con nước tìm về, nuôi sống bao thế hệ người dân vùng ngọt Cà Mau. Nay, những mùa cá đầy đồng thưa dần. Nguồn lợi suy giảm, tình trạng khai thác tận diệt đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giữ lại không chỉ một nguồn sinh kế, mà cả hệ sinh thái và những giá trị văn hoá gắn với đồng quê. Tuyến bài “Giữ mạch đồng quê” nhìn từ thực trạng suy giảm nguồn lợi cá đồng, tác động của khai thác thiếu kiểm soát và những nỗ lực cứu vãn đang được triển khai. Thay đổi cách khai thác, phục hồi môi trường sống, gắn bảo tồn với sinh kế là hướng để con cá trở lại đồng quê Cà Mau một cách bền vững.

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.